Ma 21
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Bíblia Portuguesa Mundial (Brazilian Portuguese)
1Vừa khi Đức Chúa Jêsus cùng môn đồ gần đến thành Giê-ru-sa-lem, và đã tới thành Bê-pha-giê, bên núi Ô-li-ve rồi, thì Ngài sai hai môn đồ,
1Quando se aproximaram de Jerusalém e chegaram a Betesfagé, ao Monte das Oliveiras, Jesus enviou dois discípulos,
2mà phán rằng: Hãy đi đến làng ở trước mặt các ngươi, tức thì sẽ gặp một con lừa cái bị cột, với một con lừa con; hãy mở ra và dắt đến cho ta.
2dizendo-lhes: “Vão ao povoado que está em frente a vocês, e logo encontrarão uma jumenta amarrada, e um jumentinho com ela. Desamarrem-nos e tragam-nos para mim.
3Nếu có ai nói chi với các ngươi, hãy trả lời rằng Chúa cần dùng hai con lừa đó; tức thì họ sẽ gởi lừa đi.
3Se alguém lhes disser alguma coisa, vocês dirão: 'O Senhor precisa deles', e logo ele os enviará.”
4Vả, điều ấy xảy ra để cho ứng nghiệm lời của đấng tiên tri rằng:
4Tudo isso aconteceu para que se cumprisse o que foi dito por meio do profeta, que disse:
5Hãy nói với con gái thành Si-ôn rằng: Nầy, vua ngươi đến cùng ngươi, Nhu mì, cỡi lừa Và lừa con, là con của lừa cái mang ách.
5“Diga à filha de Sião: eis que o seu Rei vem a você, humilde, e montado em um jumento, sobre um jumentinho, cria de jumenta.”
6Hai môn đồ bèn đi, và làm y theo lời Đức Chúa Jêsus đã dạy.
6Os discípulos foram e fizeram exatamente como Jesus lhes havia ordenado.
7Hai người dắt lừa cái và lừa con, trải áo mình trên lưng lừa, và nâng Ngài cỡi lên.
7Trouxeram a jumenta e o jumentinho, colocaram suas roupas sobre eles, e ele montou.
8Bấy giờ phần nhiều trong đám dân đông trải áo mình trên đường; kẻ khác chặt nhánh cây mà rải ra giữa đường.
8Uma multidão muito grande estendeu suas roupas pelo caminho. Outros cortaram ramos de árvores e os espalharam pelo caminho.
9Đoàn dân đi trước và theo sau đều kêu lên rằng: Hô-sa-na con vua Đa-vít! Đáng khen ngợi cho Đấng nhân danh Chúa mà đến! Hô-sa-na ở trên nơi rất cao!
9As multidões que iam adiante dele e as que o seguiam clamavam: “Hosana ao Filho de Davi! Bendito é o que vem em nome do Senhor! Hosana nas alturas!”
10Khi Ngài đã vào thành Giê-ru-sa-lem, thì cả thành đều xôn xao, nói rằng: Người nầy là ai?
10Quando ele entrou em Jerusalém, toda a cidade se agitou, perguntando: “Quem é este?”
11Chúng trả lời rằng: Aáy là Đấng tiên tri Jêsus ở thành Na-xa-rét, xứ Ga-li-lê.
11As multidões respondiam: “Este é o profeta, Jesus, de Nazaré da Galileia.”
12Đức Chúa Jêsus vào đền thờ, đuổi hết kẻ bán người mua ở đó; đổ bàn của người đổi bạc, và ghế của người bán bò câu.
12Jesus entrou no templo de Deus e expulsou todos os que vendiam e compravam no templo, e derrubou as mesas dos cambistas e as cadeiras dos que vendiam pombas.
13Ngài phán cùng họ rằng: Có lời chép: Nhà ta sẽ gọi là nhà cầu nguyện; nhưng các ngươi thì làm cho nhà ấy thành ra ổ trộm cướp.
13Ele lhes disse: “Está escrito: 'A minha casa será chamada casa de oração', mas vocês fizeram dela um covil de ladrões!”
14Bấy giờ, những kẻ mù và què đến cùng Ngài trong đền thờ, thì Ngài chữa cho họ được lành.
14Os cegos e os mancos vieram a ele no templo, e ele os curou.
15Nhưng các thầy tế lễ cả và các thầy thông giáo thấy sự lạ Ngài đã làm, và nghe con trẻ reo lên trong đền thờ rằng: Hô-sa-na con vua Đa-vít! thì họ tức giận,
15Mas quando os principais sacerdotes e os escribas viram as maravilhas que ele fazia, e as crianças clamando no templo e dizendo: “Hosana ao Filho de Davi!”, ficaram indignados,
16và nói với Ngài rằng: Thầy có nghe điều những đứa trẻ nầy nói không? Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Có. Vậy chớ các ngươi chưa hề đọc lời nầy: Chúa đã được ngợi khen bởi miệng con trẻ và con đang bú, hay sao?
16e lhe disseram: “Você está ouvindo o que estes estão dizendo?” Jesus lhes disse: “Sim. Vocês nunca leram: 'Da boca das crianças e dos recém-nascidos, tu aperfeiçoaste o louvor'?”
17Đoạn, Ngài bỏ họ, đi ra khỏi thành mà đến làng Bê-tha-ni và nghỉ đêm ở đó.
17Ele os deixou e saiu da cidade para Betânia, e acampou ali.
18Sáng mai, khi trở lại thành thì Ngài đói.
18De manhã, ao voltar para a cidade, ele teve fome.
19Thấy một cây vả ở bên đường, Ngài bèn lại gần, song chỉ thấy những lá mà thôi, thì Ngài phán cùng cây vả rằng: Mầy chẳng khi nào sanh ra trái nữa! Cây vả tức thì khô đi.
19Vendo uma figueira à beira do caminho, aproximou-se dela e não encontrou nada nela, a não ser folhas. Ele lhe disse: “Nunca mais dê fruto!” Imediatamente a figueira secou.
20Môn đồ thấy điều đó, lấy làm k”, nói rằng: Cớ sao trong giây phút mà cây vả liền khô đi vậy?
20Quando os discípulos viram isso, ficaram maravilhados e disseram: “Como a figueira secou tão depressa?”
21Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, nếu các ngươi có đức tin, và không nghi ngờ chi hết, thì chẳng những các ngươi làm được điều đã làm cho cây vả mà thôi, song dầu các ngươi biểu hòn núi nầy rằng: Hãy cất mình lên và quăng xuống biển, điều đó cũng sẽ làm được.
21Jesus lhes respondeu: “Em verdade lhes digo: se vocês tiverem fé e não duvidarem, não apenas farão o que foi feito à figueira, mas até mesmo se disserem a este monte: ‘Levante-se e jogue-se no mar’, isso será feito.
22Trong khi cầu nguyện, các ngươi lấy đức tin xin việc gì bất k”, thảy đều được cả.
22E tudo o que pedirem em oração, crendo, vocês receberão.”
23Đức Chúa Jêsus vào đền thờ rồi, đang giảng đạo, có các thầy tế lễ cả và các trưởng lão trong dân đến mà hỏi rằng: Bởi quyền phép nào mà thầy làm những sự nầy, và ai đã cho thầy quyền phép ấy?
23Quando ele entrou no templo, os principais sacerdotes e os anciãos do povo se aproximaram dele enquanto ele ensinava, e perguntaram: “Com que autoridade você faz estas coisas? E quem lhe deu essa autoridade?”
24Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ta cũng sẽ hỏi các ngươi một điều; nếu trả lời được, thì ta cũng sẽ nói cho các ngươi bởi quyền phép nào mà ta đã làm những việc đó.
24Jesus lhes respondeu: “Eu também lhes farei uma pergunta; se me responderem, eu também lhes direi com que autoridade faço estas coisas.
25Phép báp-tem của Giăng bởi đâu? Bởi trên trời hay là bởi người ta? Vả, họ bàn riêng với nhau như vầy: Nếu chúng ta đáp rằng: Bởi trên trời, thì người sẽ nói với ta rằng: Vậy sao không tin lời người ấy?
25O batismo de João, de onde era? Do céu ou dos homens?” Eles discutiam entre si, dizendo: “Se dissermos: 'Do céu', ele nos perguntará: 'Então, por que vocês não creram nele?'
26Còn nếu đáp rằng: Bởi người ta, thì chúng ta sợ thiên hạ, vì thiên hạ đều cho Giăng là đấng tiên tri.
26Mas se dissermos: 'Dos homens', temos medo da multidão, pois todos consideram João como um profeta.”
27Vậy, họ trả lời Đức Chúa Jêsus rằng: Chúng tôi không biết. Ngài bèn phán cùng họ rằng: Ta cũng không bảo cho các ngươi bởi quyền phép nào mà ta làm những điều nầy.
27Então responderam a Jesus: “Não sabemos.” Ele também lhes disse: “Tampouco eu lhes direi com que autoridade faço estas coisas.
28Các ngươi nghĩ làm sao? Một người kia có hai đứa con trai; nói cùng đứa thứ nhất, mà rằng: Con ơi, bữa nay con hãy ra làm vườn nho.
28Mas o que vocês acham? Um homem tinha dois filhos; chegando ao primeiro, disse: 'Filho, vá trabalhar hoje na minha vinha.'
29Đứa ấy thưa rằng: Vâng; rồi không đi.
29Ele respondeu: 'Não quero', mas depois mudou de ideia e foi.
30Đoạn, người cha đi đến đứa thứ hai, cũng bảo như vậy. Đứa nầy thưa rằng: Tôi không muốn đi. Nhưng sau ăn năn, rồi đi.
30Chegando ao segundo, disse a mesma coisa. Ele respondeu: 'Eu vou, senhor', mas não foi.
31Trong hai con trai đó, đứa nào làm theo ý muốn của cha? Họ đáp rằng: Đứa thứ hai. Đức Chúa Jêsus phán cùng họ rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, những kẻ thâu thuế và phường đĩ điếm sẽ được vào nước Đức Chúa Trời trước các ngươi.
31Qual dos dois fez a vontade do pai?” Eles lhe disseram: “O primeiro.” Jesus lhes disse: “Em verdade lhes digo que os cobradores de impostos e as prostitutas estão entrando no Reino de Deus antes de vocês.
32Vì Giăng đã theo đường công bình đến cùng các ngươi, nhưng các ngươi không tin, còn những kẻ thâu thuế và phường đĩ điếm đã tin người; và các ngươi, khi đã thấy điều ấy, sau cũng không ăn năn đặng tin người.
32Porque João veio a vocês no caminho da justiça, e vocês não creram nele; mas os cobradores de impostos e as prostitutas creram nele. E vocês, mesmo depois de verem isso, não se arrependeram a ponto de crer nele.
33Hãy nghe lời ví dụ khác. Có người chủ nhà kia, trồng một vườn nho, rào chung quanh, ở trong đào một cái hầm ép rượu, và cất một cái tháp; rồi cho những kẻ trồng nho mướn, và đi qua xứ khác.
33“Ouçam outra parábola. Havia um homem, dono de uma propriedade, que plantou uma vinha, cercou-a com uma sebe, cavou nela um lagar, construiu uma torre, arrendou-a a lavradores e viajou para outro país.
34Đến mùa hái trái, người chủ sai đầy tớ đến cùng bọn trồng nho, đặng thâu hoa lợi.
34Quando se aproximou o tempo da colheita, ele enviou seus servos aos lavradores para receber os seus frutos.
35Bọn trồng nho bắt các đầy tớ, đánh người nầy, giết người kia, và ném đá người nọ.
35Os lavradores agarraram os servos dele, espancaram um, mataram outro e apedrejaram o terceiro.
36Người chủ lại sai đầy tớ khác đông hơn khi trước; thì họ cũng đối đãi một cách.
36Novamente, ele enviou outros servos, em maior número que os primeiros; e eles os trataram da mesma forma.
37Sau hết, người chủ sai chính con trai mình đến cùng họ, vì nói rằng: Chúng nó sẽ kính trọng con ta.
37Por fim, ele lhes enviou o seu filho, dizendo: 'Eles respeitarão o meu filho.'
38Nhưng khi bọn trồng nho thấy con đó, thì nói với nhau rằng: Người nầy là kẻ kế tự đây; hè! hãy giết nó đi, và chiếm lấy phần gia tài nó.
38Mas os lavradores, quando viram o filho, disseram entre si: 'Este é o herdeiro. Venham, vamos matá-lo e tomar posse da sua herança.'
39Họ bèn bắt con ấy, quăng ra ngoài vườn nho, và giết đi.
39Então eles o agarraram, lançaram-no para fora da vinha e o mataram.
40Vậy, khi người chủ vườn nho đến, thì sẽ xử với bọn làm vườn ấy thể nào?
40Portanto, quando vier o senhor da vinha, o que ele fará àqueles lavradores?”
41Chúng trả lời rằng: Người chủ sẽ diệt đồ hung ác ấy cách khổ sở, và cho bọn trồng nho khác mướn vườn ấy, là kẻ sẽ nộp hoa lợi lúc đến mùa.
41Eles lhe disseram: “Ele destruirá miseravelmente aqueles homens miseráveis, e arrendará a vinha a outros lavradores, que lhe darão os frutos no tempo certo.”
42Đức Chúa Jêsus phán cùng họ rằng: Các ngươi há chưa hề đọc lời trong Kinh Thánh: Hòn đá đã bị người xây nhà bỏ ra, Trở nên đá đầu góc nhà; Aáy là việc Chúa làm, Và là một sự lạ trước mắt chúng ta, hay sao?
42Jesus lhes disse: “Vocês nunca leram nas Escrituras: 'A pedra que os construtores rejeitaram tornou-se a pedra angular. Isso veio do Senhor, e é maravilhoso aos nossos olhos'?
43Bởi vậy, ta phán cùng các ngươi, nước Đức Chúa Trời sẽ cất khỏi các ngươi, và cho một dân khác là dân sẽ có kết quả của nước đó.
43“Portanto, eu lhes digo que o Reino de Deus será tirado de vocês e será dado a uma nação que produza os seus frutos.
44Kẻ nào rơi trên hòn đá ấy sẽ bị giập nát, còn kẻ nào bị đá ấy rớt nhằm thì sẽ tan tành như bụi.
44Aquele que cair sobre esta pedra será despedaçado, mas aquele sobre quem ela cair será reduzido a pó.”
45Các thầy tế lễ cả và người Pha-ri-si nghe những lời ví dụ đó, thì biết Ngài nói về mình.
45Quando os principais sacerdotes e os fariseus ouviram as suas parábolas, perceberam que ele falava a respeito deles.
46Họ bèn tìm cách để bắt Ngài; song sợ thiên hạ vì thiên hạ tôn Ngài là đấng tiên tri.
46E, embora procurassem prendê-lo, tiveram medo das multidões, porque elas o consideravam um profeta.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.