Ma 16
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Bíblia Portuguesa Mundial (Brazilian Portuguese)
1Những người Pha-ri-si và Sa-đu-sê đến cùng Đức Chúa Jêsus, có ý thử Ngài, thì xin làm cho xem một dấu lạ từ trên trời xuống.
1Os fariseus e saduceus aproximaram-se e, para testá-lo, pediram-lhe que lhes mostrasse um sinal do céu.
2Nhưng Ngài đáp rằng: Khi chiều tối đến, thì các ngươi nói rằng: sẽ tốt trời, vì trời đỏ.
2Mas ele lhes respondeu: “Quando chega a tarde, vocês dizem: ‘Haverá bom tempo, pois o céu está vermelho’.
3Còn sớm mai, thì các ngươi nói rằng: Hôm nay sẽ có cơn dông, vì trời đỏ và mờ mờ. Các ngươi người biết phân biệt rõ sắc trời, mà không phân biệt được dấu chỉ thì giờ ư!
3E de manhã: ‘Hoje haverá tempestade, pois o céu está vermelho e ameaçador’. Hipócritas! Vocês sabem discernir o aspecto do céu, mas não conseguem discernir os sinais dos tempos!
4Dòng dõi hung ác gian dâm nầy xin một dấu lạ; nhưng sẽ chẳng cho dấu lạ chi khác ngoài dấu lạ của đấng tiên tri Giô-na. Rồi Ngài bỏ họ mà đi.
4Uma geração má e adúltera pede um sinal, e nenhum sinal lhe será dado, exceto o sinal do profeta Jonas.” Então ele os deixou e foi embora.
5Khi môn đồ đi đến bờ bên kia, quên đem bánh theo.
5Os discípulos chegaram ao outro lado e haviam se esquecido de levar pão.
6Đức Chúa Jêsus phán cùng môn đồ rằng: Hãy giữ mình cẩn thận về men của người Pha-ri-si và Sa-đu-sê.
6Jesus lhes disse: “Fiquem atentos e tenham cuidado com o fermento dos fariseus e saduceus.”
7Môn đồ suy nghĩ và luận cùng nhau rằng: Đây là vì chúng ta không đem bánh theo.
7Eles discutiam entre si, dizendo: “É porque não trouxemos pão.”
8Đức Chúa Jêsus biết điều đó, thì phán rằng: Hỡi kẻ ít đức tin, sao các ngươi tưởng rằng ấy là vì cớ các ngươi không có bánh?
8Jesus, percebendo isso, disse: “Homens de pouca fé, por que vocês discutem entre si por não terem trazido pão?
9Các ngươi há chưa hiểu, cũng không nhớ năm cái bánh cho năm ngàn người, và các ngươi lượm được mấy giỏ đầy bánh thừa sao?
9Vocês ainda não compreendem nem se lembram dos cinco pães para os cinco mil, e de quantos cestos recolheram?
10Lại há không nhớ bảy cái bánh cho bốn ngàn người, và các ngươi lượm được bao nhiêu giỏ đầy bánh thừa sao?
10Nem dos sete pães para os quatro mil, e de quantos cestos recolheram?
11Các ngươi sao chẳng hiểu rằng không phải về bánh mà ta muốn nói đâu?... nhưng hãy giữ mình về men của người Pha-ri-si và Sa-đu-sê.
11Como é que vocês não compreendem que eu não estava lhes falando sobre pão? Mas tenham cuidado com o fermento dos fariseus e saduceus.”
12Bấy giờ môn đồ mới hiểu rằng Ngài chẳng bảo giữ mình về men làm bánh, nhưng về đạo của người Pha-ri-si và Sa-đu-sê.
12Então eles entenderam que ele não lhes dissera para ter cuidado com o fermento do pão, mas sim com o ensino dos fariseus e saduceus.
13Khi Đức Chúa Jêsus đã vào địa phận thành Sê-sa-rê Phi-líp, bèn hỏi môn đồ, mà rằng: Theo lời người ta nói thì Con người là ai?
13Quando Jesus chegou à região de Cesareia de Filipe, perguntou aos seus discípulos, dizendo: “Quem os homens dizem que eu, o Filho do Homem, sou?”
14Môn đồ thưa rằng: Người nói là Giăng Báp-tít; kẻ nói là Ê-li; kẻ khác lại nói là Giê-rê-mi, hay là một đấng tiên tri nào đó.
14Eles responderam: “Alguns dizem João Batista; outros, Elias; e ainda outros, Jeremias ou um dos profetas.”
15Ngài phán rằng: Còn các ngươi thì xưng ta là ai?
15Ele lhes perguntou: “E vocês, quem dizem que eu sou?”
16Si-môn Phi-e-rơ thưa rằng: Chúa là Đấng Christ, con Đức Chúa Trời hằng sống.
16Simão Pedro respondeu: “Tu és o Cristo, o Filho do Deus vivo.”
17Bấy giờ, Đức Chúa Jêsus phán cùng người rằng: Hỡi Si-môn, con Giô-na, ngươi có phước đó; vì chẳng phải thịt và huyết tỏ cho ngươi biết điều nầy đâu, bèn là Cha ta ở trên trời vậy.
17Jesus lhe respondeu: “Bem-aventurado é você, Simão, filho de Jonas, pois não foi carne e sangue que lhe revelou isso, mas meu Pai, que está nos céus.
18Còn ta, ta bảo ngươi rằng: Ngươi là Phi-e-rơ, ta sẽ lập Hội thánh ta trên đá nầy, các cửa âm phủ chẳng thắng được hội đó.
18Eu também lhe digo que você é Pedro, e sobre esta pedra edificarei a minha igreja, e as portas do Hades não prevalecerão contra ela.
19Ta sẽ giao chìa khóa nước thiên đàng cho ngươi; hễ điều gì mà ngươi buộc dưới đất, thì cũng sẽ buộc ở trên trời, và điều gì mà ngươi mở dưới đất, thì cũng sẽ được mở ở trên trời.
19Eu lhe darei as chaves do Reino dos Céus, e tudo o que você ligar na terra terá sido ligado nos céus; e tudo o que você desligar na terra terá sido desligado nos céus.”
20Đoạn, Ngài cấm môn đồ đừng nói cho ai biết rằng Ngài, Đức Chúa Jêsus, là Đấng Christ.
20Então ele ordenou aos discípulos que não dissessem a ninguém que ele era Jesus, o Cristo.
21Từ đó, Đức Chúa Jêsus mới tỏ cho môn đồ biết rằng mình phải đi đến thành Giê-ru-sa-lem, phải chịu tại đó nhiều sự khốn khổ bởi những người trưởng lão, thầy tế lễ cả, cùng thầy thông giáo, và phải bị giết, đến ngày thứ ba phải sống lại.
21A partir daquele momento, Jesus começou a mostrar aos seus discípulos que era necessário que ele fosse a Jerusalém e sofresse muitas coisas nas mãos dos anciãos, dos principais sacerdotes e dos escribas, e fosse morto, e no terceiro dia fosse ressuscitado.
22Phi-e-rơ bèn đem Ngài riêng ra, mà can rằng: Hỡi Chúa, Đức Chúa Trời nào nỡ vậy! Sự đó sẽ không xảy đến cho Chúa đâu!
22Pedro, chamando-o à parte, começou a repreendê-lo, dizendo: “Longe de ti, Senhor! Isso nunca te acontecerá.”
23Nhưng Ngài xây mặt lại mà phán cùng Phi-e-rơ rằng: ù Sa-tan, hãy lui ra đằng sau ta! Ngươi làm gương xấu cho ta; vì ngươi chẳng nghĩ đến việc Đức Chúa Trời, song nghĩ đến việc người ta.
23Mas ele se voltou e disse a Pedro: “Para trás de mim, Satanás! Você é uma pedra de tropeço para mim, pois não está pensando nas coisas de Deus, mas nas coisas dos homens.”
24Đức Chúa Jêsus bèn phán cùng môn đồ rằng: Nếu ai muốn theo ta, thì phải liều mình, vác thập tự giá mình mà theo ta.
24Então Jesus disse aos seus discípulos: “Se alguém deseja me seguir, negue-se a si mesmo, tome a sua cruz e siga-me.
25Vì ai muốn cứu sự sống mình thì sẽ mất, còn ai vì cớ ta mà mất sự sống mình thì sẽ được lại.
25Pois quem quiser salvar a sua vida, a perderá; mas quem perder a sua vida por minha causa, a encontrará.
26Người nào nếu được cả thiên hạ mà mất linh hồn mình, thì có ích gì? Vậy thì người lấy chi mà đổi linh hồn mình lại?
26Pois que adiantará a um homem ganhar o mundo inteiro e perder a sua vida? Ou o que um homem dará em troca de sua vida?
27Vì Con người sẽ ngự trong sự vinh hiển của Cha mình mà giáng xuống cùng các thiên sứ, lúc đó, Ngài sẽ thưởng cho từng người, tùy việc họ làm.
27Pois o Filho do Homem virá na glória de seu Pai, com os seus anjos, e então retribuirá a cada um de acordo com as suas obras.
28Quả thật, ta nói cùng các ngươi, trong các ngươi đứng đây, có một vài kẻ sẽ không chết trước khi thấy con người ngự đến trong nước Ngài.
28Em verdade lhes digo: alguns dos que estão aqui não provarão a morte de forma alguma, até que vejam o Filho do Homem vindo em seu Reino.”
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.