Giô-na
Chapter 4

Giô-na

Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Bấy giờ Giô-na rất không đẹp lòng, và giận dữ.
1Toe Jonah loe poeknawm ai, paroeai palungphui.
2Người cầu nguyện Đức Giê-hô-va rằng: Hỡi Đức Giê-hô-va, tôi cầu xin Ngài, ấy há chẳng phải là điều tôi đã nói khi tôi còn ở trong xứ tôi sao? Vì đó nên tôi lật đật trốn qua Ta-rê-si vậy. Bởi tôi biết rằng Ngài là Đức Chúa Trời nhân từ, thương xót, chậm giận, giàu ơn, và đổi ý không xuống tai vạ.
2To pongah Angraeng khaeah, Aw Angraeng, nang loe palungnathaih katawn, amlunghaih hoiah koi Sithaw ah na oh, amlunghaih hoi tuinom hoiah koi, palungphui han karai, raihaih thung hoi loisakkung Sithaw ah na oh pongah, Nineveh vangpui hae nam rosak mak ai, tiah ka panoek. Kaimah prae ah ka oh naah hae lok hae ka thuih boeh na ai maw? To pongah ni kai loe na hmaa hoiah Tarshish vangpui ah ka cawnh ving.
3Hỡi Đức Giê-hô-va, vậy bây giờ, tôi nài xin Ngài hãy cất lấy sự sống tôi; vì về phần tôi, chết còn hơn sống!
3Aw Angraeng, vaihi ka hinghaih hae la halat ah; ka hing pongah loe duek hae kai han hoih kue, tiah lawk a thuih.
4Đức Giê-hô-va trả lời cùng người rằng: Ngươi giận có nên không?
4Toe Angraeng mah anih khaeah, Tih kawng pongah maw palung na phui? tiah a naa.
5Bấy giờ Giô-na ra khỏi thành Ni-ni-ve, ngồi phía đông thành ấy. Tại đó, người làm một cái chòi, ngồi dưới bóng chòi ấy mà đợi xem điều sẽ xảy đến cho thành ấy.
5To pongah Jonah loe vangpui thung hoiah tacawt ving moe, vangpui ni angyae bangah anghnut, to ah angmah ohhaih im tetta to sak moe, tahlip thungah anghnut; vangpui ah kaom han koi hmuen to khet hanah a zing.
6Vả, Đức Giê-hô-va sắm sẵn một dây dưa cao lên bên trên Giô-na, đặng phủ bóng trên đầu người, và cứu người khỏi sự khổ cực. Giô-na rất vui vì cớ dây ấy.
6To naah Jonah to raihaih thung hoiah loisak moe, anih to tahlipsak hanah, Angraeng Sithaw mah akung maeto amprawksak moe, anih ih lu ranui ah amzamsak. To pongah Jonah loe akung nuiah kating ai kawnhaih a tawnh.
7Nhưng bữa sau, vừa lúc hừng đông, Đức Chúa Trời sắm một con sâu, sâu chích dây ấy đến nỗi héo.
7Toe akhawnbang khodai naah loe akung to caak hanah Sithaw mah langkawk to patoeh, langkawk mah caak pongah akung loe azaem ving.
8Đoạn, đến khi mặt trời mọc, Đức Chúa Trời sắm gió cháy thổi từ phương đông, và mặt trời giọi xuống trên đầu Giô-na, đến nỗi ngất đi, và cầu chết mà rằng: Về phần tôi, chết còn hơn sống!
8Ni tacawt naah Sithaw mah ni angyae bang hoiah kabae takhi to songsak, ni kabae mah Jonah ih lu to kangh pongah, anih loe thazok sut, to pongah anih loe duek hanah a koeh, Hing pongah loe duek hae kai hanah hoih kue, tiah a thuih.
9Đức Chúa Trời bèn phán cùng Giô-na rằng: Ngươi nổi giận vì cớ dây nầy có nên không? Người thưa rằng: Tôi giận cho đến chết cũng phải lắm.
9To pacoengah Sithaw mah Jonah khaeah, Akung nuiah palung na phui han takung oh maw? tiah a naa. Anih mah, Duek duih khoek to palung ka phuihaih takung oh, tiah a naa.
10Đức Giê-hô-va lại phán: Ngươi đoái tiếc một dây mà ngươi chưa hề khó nhọc vì nó, ngươi không làm cho nó mọc, một đêm thấy nó sanh ra và một đêm thấy nó chết.
10Toe Angraeng mah, Nang loe qumto naah amprawk moe, qumto naah kadueh, nang mah khetzawn ih akung doeh na ai, na patit ih akung doeh na ai, akung maeto nuiah tahmenhaih na tawnh.
11Còn ta, há không đoái tiếc thành lớn Ni-ni-ve, trong đó có hơn mười hai vạn người không biết phân biệt tay hữu và tay tả, lại với một số thú vật rất nhiều hay sao?
11To tiah nahaeloe banqoi hoi bantang mataeng doeh pathlaeng thai ai kami sang cumvai, pumphaeto hoi pop parai moi pacahhaih, kalen parai Nineveh vangpui to ka pathlung mak ai maw? tiah a naa.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.