Ê-xê 27
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Lại có lời Đức Giê-hô-va phán cùng ta rằng:
1HIKI hou mai ka olelo a Iehova ia'u, i mai la,
2Hỡi con người, hãy làm một bài ca thương về thành Ty-rơ.
2Ano, o ke keiki a ke kanaka e hoomaka oe i ke kanikau no Turo.
3Hãy nói cùng thành Ty-rơ rằng: Hỡi mầy là thành ở nơi cửa biển, buôn bán với các dân của nhiều cù lao, Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Hỡi Ty-rơ, mầy có nói: Ta là sự tốt đẹp trọn vẹn.
3A e olelo aku ia Turo, E ka mea e noho ana ma ke komo ana o ke kai, ka mea kalepa a kanaka o na mokupuni he nui, ke i mai nei Iehova ka Haku, E Turo, ua olelo oe, He nani loa au.
4Bờ cõi mầy ở trong lòng biển; những kẻ xây dựng mầy đã làm cho mầy nên một thành tốt đẹp trọn vẹn.
4Aia kou mau palena mawaena konu o ke kai, o kou mau mea kukulu, ua hoohemolele lakou i kou nani.
5Họ đã ghép ván của mầy bằng cây tùng của Sê-nia; lấy cây bách của Li-ban đặng làm cột buồm cho mầy;
5Ua hana lakou i kou mau papa moku no na laau kaa o Senira; a mai Lebanona mai i lawe mai ai lakou i na kedera e hana i mau kia nou.
6làm chèo của mầy bằng cây dẽ của Ba-san; lấy cây hoàng dương của đảo Kít-tim làm ván lợp, và cẩn bằng ngà voi.
6No na oka o Basana i hana'i lakou i kou mau hoe; ua hana no hoi ka poe mamo a Asura i kou mau papa noho he niho elepani i laweia mai mai na moku mai o Kitima.
7Vải gai mịn có thêu của Ê-díp-tô dùng làm buồm, để làm cờ xí cho mầy; vải sắc tía sắc xanh của các cù lao Ê-li-sa dùng làm màn cháng.
7O ke olona makalii i hoonionioia mai Aigupita mai, oia kau mea i kau ai i pea nou; o ka poni uliuli a me ka makue mai na moku o Elisa, oia ka mea i uhi mai ia oe.
8Dân cư Si-đôn và A-vát là bạn chèo của mầy; hỡi Ty-rơ, những người khôn ngoan trong mầy làm kẻ cầm lái của mầy.
8O ko Zidona a me ko Arevada, oia kou poe holomoku: o kou poe kanaka akamai, na mea iloko ou, oia kou mau pailota.
9Các trưởng lão ở Ghê-banh và người thông thái xứ ấy, thì mầy dùng để tu bổ chỗ hư hỏng của tàu mầy. Hết thảy những tàu biển cùng thủy thủ nó đều ở trong mầy, đặng đổi lấy hàng hóa của mầy.
9O na mea kahiko o Gehala, a me kona poe akamai, oia kou poe kapilimoku iwaena ou. Pau na mokuholo o ke kai a me ko lakou poe holomoku, ka iloko ou i ka lawelawe i kou waiwai kalepa.
10Người Phe-rơ-sơ, người Lút, người Phút, làm lính chiến trong đạo binh mầy. Chúng nó treo thuẫn và mão trụ trong mầy, và làm nên sự đẹp đẽ của mầy.
10O ko Peresia, a me ko Luda, a me ko Puta, kou poe kanaka kaua iloko o kou poe koa; ua kau lakou i ka palekaua a me ka mahiole iloko ou; ua hoike lakou i kou nani.
11Những người A-vát cùng quân lính riêng của mầy đầy vách thành mầy, những người mạnh mẽ thì ở trên các tháp; chúng nó treo thuẫn chung quanh vách thành mầy, và làm sự đẹp đẽ trọn vẹn của mầy.
11O kanaka o Arevada, me kou poe koa, ka iluna o kou mau pa a puni, a me ko Gamada ka iloko o kou raau halekiai; ua Kau ae lakou i ko lakou mau palekaua ma kou mau paia a puni; a ua hoolilo lakou i kou nani i hemolele.
12Những dân ở thành Ta-rê-si buôn bán với mầy đủ mọi thứ của cải, lấy bạc, sắt, thiếc, chì mà đổi đồ hàng hóa của mầy.
12A lilo o Taresisa i mea kalepa no ka nui loa o kela waiwai keia waiwai; me ke kala, ka hao, ke tina, ke kepaupoka, i kuai ai lakou ma kou mau wahi kuai.
13Các dân ở Gia-van, ở Tu-banh và ở Mê-siếc buôn bán với mầy, đổi lấy hàng hóa mầy thì cho mầy những tôi mọi và đồ bằng đồng.
13Iavana, Tubala, a me Mesaka, o lakou na hoa kalepa ou; ua kalepa lakou i kanaka, a me na ipu keleawe, ma kou mau wahi i kalepa ai.
14Những người của nhà Tô-ga-ma đem ngựa, ngựa chiến, la, mà đổi lấy đồ hàng của mầy.
14O ko ka ohana a Togarema ua kalepa mai, ma kou mau wahi i kalepa ai, me na lio, na hololio, a me na hoki.
15Những người Đê-đan là bạn hàng mầy; sự buôn bán của nhiều cù lao ở trong tay mầy, đem cho mầy những ngà voi, gỗ mun, mà đổi lấy hàng hóa.
15A o kanaka o Dedana, o lakou na hoa kalepa ou; he nui na mokupuni ka waiwai kalepa iloko o kou lima; lawe mai lakou i na pepeiaohao elepani a me ka eboni i makana nou.
16Vì tay mầy chế tạo rất nhiều, nên Sy-ri buôn bán với mầy, và lấy bích ngọc, vải điều, đồ thêu, vải gai mịn, san hô, hồng ngọc mà đổi hàng của mầy.
16O Suria hoi kou hoa kalepa no ka nui o kau mau waiwai i hana'i; ua lawelawe lakou ma kou mau wahi i kalepa ai i na emerala, i ka makue, a me ka lole hoonionioia, a me ka lole olona, a me ke akoakoa, a me ka agate.
17Giu-đa và đất Y-sơ-ra-ên cũng buôn bán với mầy, thì đem cho mầy những lúa mì ở Min-nít, bánh ngọt, mật ong, dầu, và nhũ hương.
17O Iuda a me ka aina o ka Iseraela, o laua na hoa kalepa ou; ua kalepa lakou ma kou mau wahi kuai i ka palaoa o Minita, a o Panaga, a me ka meli, a me ka aila, a me ka balesama.
18Bởi tay mầy chế ra nhiều đồ, của cải đầy dẫy, nên Đa-mách lấy rượu nho ở Hên bôn và lông chiên trắng của nó mà đổi chác cùng mầy.
18O Damaseko kou hoa kalepa ma na mea nui au i hana'i, no ka nui loa o kela waiwai keia waiwai, me ka waina o Helebona a me ka huluhulu keokeo.
19Vê-đan và Gia-van đem chỉ đổi lấy hàng hóa mầy; trong hàng hóa đó có sắt sáng, nhục quế, và xương bồ.
19O Dana a me Iavana mai Uzala mai kekahi kalepa ma kou mau wahi i kalepa ai; o ka hao huali, a me ke kasia, a me ke kalamo ka iloko o kou mau wahi i kalepa ai.
20Những người ở Đê-đan buôn với mầy bằng thứ vải hoa để phủ trên ngựa.
20O Dedana kou mea kalepa ma na lole makamae no na kaa.
21Người A-rạp và mọi quan trưởng ở Kê-đa buôn bán với mầy, và đem đến cho mầy những chiên con, chiên đực, và dê đực.
21O Arabia a me na'lii a pau o Kedara, o ka poe kalepa lakou o kou lima, ma na keikihipa, a me na hipa kane a me na kao; ma ia mau mea he poe kalepa lakou nou.
22Những con buôn ở Sê-ba và Ra-a-ma buôn bán với mầy, lấy mọi thứ hương tốt nhất, mọi thứ đá quí và vàng mà đổi lấy hàng hóa mầy.
22O na mea kalepa o Seba a me Raba, oia ka poe Kalepa ou; na kalepa lakou i ka maikai loa o na mea ala a pau, a me na pohaku maemae, a me ke gula.
23Ha-ran, Can nê, và Ê-đen, những con buôn ở Sê-ba, A-si-ri và Kin-mát đều là bạn hàng của mầy;
23O Harana, o Kane, a me Edena, na mea kalepa o Seba, Asura a me Kilemada, he mau mea kalepa nou.
24chúng nó buôn bán với mầy những hàng trọng thể: áo màu tía và thêu, vải quí báu xếp trong hòm, dây bện, ván bằng gỗ hương bách.
24O lakou kou mau hoa kalepa ma na mea maikai, na kapa uliuli, a me ka mea hoonionioia, a me na kapa komo anoninoni i paa i na kaula, a me ka laau kedera iwaena o kau waiwai kalepa.
25Các thuyền Ta-rê-si vì sự buôn mầy mà chở chạy, và mầy được đầy dẫy cùng được vinh hiển cả thể trong lòng biển.
25O na moku holo o Taresisa kou mau huakai kalepa, a ua hoolakoia ae, a ua hooliloia i nani loa maloko io o ke kai.
26Nhưng mà những tay chèo của mầy đã dẫn mầy trên nước lớn, và gió đông đã đập nát mầy trong lòng biển.
26Ua lawe kou mau mea hoe ia oe iloko o na wai nui; ua wawahi ka makani hikina ia oe maloko o ke kai.
27Đến ngày hủy phá của mầy, thì của cải, hàng hóa, việc buôn bán của mầy, thủy thủ và kẻ coi hoa tiêu của mầy, những kẻ tu bổ chỗ hư hỏng của tàu bè mầy, những kẻ buôn bán hàng hóa với mầy, hết thảy lính chiến của mầy ở trong mầy, cả đoàn dân đông đầy giữa mầy, đều sẽ ngã xuống trong lòng biển.
27O kou waiwai nui, a me kou mau wahi i kalepa ai, o kou waiwai kalepa, a kou poe holo moku, a me kou mau pailota, o kou mau mea kapili moku, a me kou mau mea malama waiwai, a me kou poe kanaka kaua a pau iwaena ou, a o kou lehulehu hoi a pau iloko ou, e haule lakou iloko o ke kai, i ka la e pau ai oe.
28Bởi tiếng kêu của những kẻ coi hoa tiêu, các xóm chung quanh mầy đều run rẩy;
28E naueue na wahi e hoopuni ana no ka leo o ka uwe ana o kou poe hooholo moku.
29hết thảy những kẻ cầm chèo, hết thảy những thủy thủ, hết thảy những kẻ coi hoa tiêu ngoài biển đều xuống khỏi tàu mình và đứng vững trên đất.
29A o na mea hoe a pau, na holomoku, a me ka poe hooholomoku a pau o ke kai, e iho ae lakou mai luna ae o ko lakou mau moku, a e ku lakou ma ka aina.
30Chúng nó sẽ làm vang tiếng than khóc mầy, và trổi tiếng kêu la cay đắng vì mầy; chúng nó ném bụi trên đầu mình, và lăn lóc trong tro.
30A e hooloheia lakou i ko lakou leo nou, a e auwe ikaika lakou, a e hoolei lakou i ka lepo maluna iho o ko lakou poo iho; a e moe lakou iloko o ka lehu.
31Chúng nó sẽ cạo đầu vì cớ mầy, và thắt lưng bằng bao gai, trong lòng đau đớn, vì mầy khóc lóc cay đắng.
31A e hooohule loa lakou ia lakou iho nou, a e kaei ia lakou iho me ke kapa ino; a e uwe lakou nou me ke kaumaha o ka naau a me ka auwe nui.
32Nhân lòng chúng nó đau thương, thì làm một bài ca thương về mầy, và than rằng: Ai sánh với thành Ty-rơ, là thành bây giờ đã vắng lặng giữa biển?
32A i ko lakou auwe ana, e hapai lakou i ke kanikau nou, a e kanikau lakou maluna ou, e i ana, Auhea ka like me Turo, i like me ka mea i hookaiia maloko o ke kai?
33Thuở hàng hóa mầy ra khỏi các biển, mầy làm cho no đủ nhiều dân. Bởi sự giàu có và sự buôn bán của mầy thạnh vượng lên, thì làm giàu cho các vua trên đất.
33I ka puka ana'ku o kou waiwai mai loko aku o na kai, ua hoopaapu oe i na kanaka he nui, ua hoolako oe i na'lii o ka honua me ka nui o kou waiwai, a me kou waiwai kalepa.
34Bây giờ, kìa mầy đã tan nát vì các biển, chìm dưới nước sâu; sự buôn bán và dân chúng của mầy đều cùng mầy chìm đắm.
34I ka wa e wawahiia'i oe e na kai, ma kahi hohonu o ka wai, e haule kou waiwai kalepa, a me kou lehulehu a pau iwaenakonu ou.
35Hết thảy những dân ở các cù lao đều vì cớ mầy mà sững sờ, các vua chúng nó đều khiếp sợ, sắc mặt lo buồn.
35E makau aku ia oe ka poe a pau e noho ana ma na mokupuni, a e weliweli loa ko lakou mau alii, a e pioloke lakou ma ko lakou mau maka.
36Những con buôn lập nghiệp trong các dân xỉ báng mầy. Mầy đã trở nên cớ kinh khiếp, đời đời mầy sẽ không còn nữa!
36E kahaha aku ia oe ka poe kalepa iwaena o na kanaka: e lilo oe i mea weliweli ai, aole loa aku hoi oe,
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.