I Sam
Chapter 15
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Baibala Hemolele (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Sa-mu-ên nói cùng Sau-lơ rằng: Đức Giê-hô-va đã sai ta xức dầu cho ngươi, lập làm vua dân Y-sơ-ra-ên của Ngài. Vậy bây giờ, hãy nghe lời phán của Đức Giê-hô-va.
1OLELO aku la o Samuela ia Saula, Na Iehova wau i hoouna mai e poni ia oe i alii maluna o kona poe kanaka, o ka Iseraela: ano hoi, e hoolohe oe i ka leo o na olelo a Iehova.
2Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Ta nhớ lại điều A-ma-léc làm cho Y-sơ-ra-ên, ngăn cản đường lúc nó ra khỏi xứ Ê-díp-tô.
2Ke olelo mai nei o Iehova o ke kaua, peneia, Ke hoomanao nei au i ka mea a ka Amaleka i hana mai ai i ka Iseraela, i kona ku e mai ia ia ma ke ala, i ka manawa i hele mai ai ia mai Aigupita mai.
3Vậy, hãy đi đánh dân A-ma-léc và diệt hết mọi vật thuộc về chúng nó. Ngươi sẽ không thương xót chúng nó, phải giết người nam và nữ, con trẻ và con bú, bò và chiên, lạc đà và lừa.
3Ano hoi e hele oe, a e luku aku i ka Ameleka, a e luku aku i ko lakou mea a pau loa, mai minamina ia lakou; aka, e luku aku i ke kane a me ka wahine, i ke keiki a me ka mea omo waiu, i ka bipi a me ka hipa, i ke kamelo a me ka hoki.
4Vậy, Sau-lơ nhóm hiệp dân sự và điểm soát họ tại Tê-la-im: có hai trăm ngàn lính bộ, và mười ngàn người Giu-đa.
4Houluulu ae la o Saula i na kanaka, a helu aku la ia lakou ma Telaima, elua haneri tausani kanaka koa hele wawae, a he umi tausani kanaka o ka Iuda.
5Sau-lơ đi tới thành A-ma-léc và đặt binh phục trong trũng.
5A hele aku la o Saula i ke kulanakauhale o ka Amaleka, a kaua aku la ma ke awawa.
6Người có nói với dân Kê-nít rằng: Các ngươi hãy rút đi, hãy phân rẽ khỏi dân A-ma-léc, kẻo ta diệt các ngươi luôn với chúng nó chăng. Vì khi dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ê-díp-tô, các ngươi có làm ơn cho hết thảy dân ấy. Vậy, dân Kê-nít phân rẽ khỏi dân A-ma-léc.
6Olelo aku la o Saula i ka poe Keni, E hele aku, e haalele, e iho ilalo mai waena mai o ka Amaleka, o luku aku auanei au ia oukou me lakou: no ka mea, ua lokomaikai oukou i na mamo a Iseraela, ia lakou i hele mai, mai Aigupita mai. Hele aku la ka poe Keni mailoko aku o ka Amaleka.
7Sau-lơ đánh A-ma-léc từ Ha-vi-la cho đến Su-rơ, đối ngang xứ Ê-díp-tô.
7Luku aku la o Saula i ka Amaleka ma Havila, a hiki aku i Sura e ku pono ana i Aigupita.
8Người bắt sống A-ga, vua của dân A-ma-léc, rồi lấy gươm diệt hết thảy dân sự.
8A lawe ola aku la oia ia Agaga ke alii o ka Amaleka, a luku aku la i na kanaka a pau i ka maka o ka pahikaua.
9Nhưng Sau-lơ và dân chúng dong thứ A-ga, chẳng giết những con tốt hơn hết trong bầy bò và chiên, các thú về lứa đẻ thứ nhì, chiên con, và mọi vật tốt nhất. Chúng chẳng muốn diệt những vật đó, chỉ diệt hết những vật chi xấu và không giá trị.
9Aka, o Saula a me na kanaka i hoola aku la ia Agaga, a i na mea maikai o ka poe hipa, a o ka poe bipi, a i na mea maikai iki iho, a i na keiki hipa, a i na mea maikai a pau, aole i luku aku ia lakou: aka, o na mea i hoowahawahaia, a me na mea ino, ua pau loa ia mea i ka lukuia e lakou.
10Bấy giờ có lời Đức Giê-hô-va phán cùng Sa-mu-ên như vầy:
10Alaila hiki mai ka olelo a Iehova ia Samuela, i mai la,
11Ta hối hận vì đã lập Sau-lơ làm vua; bởi người đã xây bỏ ta, không làm theo lời ta. Sa-mu-ên buồn rầu, kêu cầu cùng Đức Giê-hô-va trọn đêm.
11Ke mihi nei au i kuu hoonoho ana ia Saula i alii: no ka mea, ua huli ae ia mai ka hahai ana ia'u, aole ia i hooko i ka'u mau kauoha. Huhu iho la o Samuela; a kahea aku la ia ia Iehova ia po a pau.
12Sáng ngày sau, người đi rước Sau-lơ. Có kẻ đến nói cùng Sa-mu-ên rằng: Sau-lơ đã đến Cạt-mên, dựng cho mình một cái bia tại đó; đoạn, đổi đường đi xuống Ghinh-ganh.
12I ka wanaao, ala ae la o Samuela e halawai me Saula i kakahiaka, ua haiia mai ia Samuela, i mai la, Ua hiki mai o Saula ma Karemela, a ua kukulu i mea hoomanao nona, a ua huli ae, a ua hele aku, a ua iho ilalo i Gilegala.
13Sa-mu-ên đi đến cùng Sau-lơ; Sau-lơ nói cùng người rằng: Nguyện Đức Giê-hô-va ban phước cho ông! Tôi đã làm theo lịnh của Đức Giê-hô-va.
13A hele aku la o Samuela io Saula la; i mai la o Saula ia ia, Pomaikai oe ia Iehova; ua hooko no wau i ka olelo a Iehova.
14Sa-mu-ên hỏi người rằng: Vậy thì tiếng chiên kêu vang đến tai ta, cùng tiếng bò rống ta nghe kia, là làm sao?
14I aku la o Samuela, No ke aha keia alala ana o na hipa ma kuu pepeiao, a me ka uwo ana o na bipi a'u e lohe nei?
15Sau-lơ đáp rằng: Dân sự có dẫn chúng nó từ nơi người A-ma-léc đến; vì dân sự đã tha những con tốt nhất về chiên và bò, đặng dâng nó làm của lễ cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ông; vật còn lại, chúng tôi đã diệt hết đi.
15I mai la o Saula, Ua lawe mai lakou ia mau mea mai ka Amaleka mai: no ka mea, ua hoola na kanaka i na mea maikai o ka poe hipa, a me na bipi, i mea e kaumaha aku ai ia Iehova, i kou Akua; a o na mea e ae, ua pau ia makou i ka lukuia.
16Sa-mu-ên nói cùng Sau-lơ rằng: Thôi! Ta sẽ tỏ cho ngươi điều Đức Giê-hô-va đã phán cho ta đêm nay. Sau-lơ đáp: Xin nói.
16Olelo aku la o Samuela ia Saula, Alia, a e hai aku au ia oe i ka mea a Iehova i olelo mai ai ia'u i neia po. I mai la kela ia ia, E hai mai.
17Sa-mu-ên nói rằng: Lúc ngươi còn nhỏ tại mắt ngươi, ngươi há chẳng trở nên đầu trưởng của các chi phái Y-sơ-ra-ên sao? và Đức Giê-hô-va há chẳng xức dầu cho ngươi làm vua của Y-sơ-ra-ên ư?
17I aku la o Samuela, I ka wa i uuku ai oe i kou maka, aole anei i lilo oe i luna no na ohana o ka Iseraela, a i poni mai hoi o Iehova ia oe i alii maluna o ka Iseraela?
18Vả, Đức Giê-hô-va đã sai ngươi đi mà rằng: Hãy đi diệt hết những kẻ phạm tội kia, là dân A-ma-léc, và giao chiến cùng chúng nó cho đến chừng ngươi đã diệt chúng nó.
18Hoouna aku la o Iehova ia oe ma ke ala, i aku la, E hele, a e luku loa aku i ka poe hewa o ka Amaleka, a e kaua aku ia lakou, a pau lakou i ka lukuia.
19Sao ngươi không vâng theo lời phán của Đức Giê-hô-va? Cớ sao ngươi xông vào của cướp, làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va?
19No ke aha la oe i hoolohe ole ai i ka leo o Iehova, a ua lawe hewa oe i ka waiwai pio, a ua hana hewa oe imua o Iehova.
20Sau-lơ đáp cùng Sa-mu-ên rằng: Tôi thật có nghe theo lời phán của Đức Giê-hô-va. Tôi đã đi làm xong việc mà Đức Giê-hô-va sai tôi đi làm; tôi có đem A-ga, vua dân A-ma-léc về, và diệt hết dân A-ma-léc.
20I mai la o Saula ia Samuela, Ua hoolohe no wau i ka leo o Iehova, a ua hele au ma ke ala a Iehova i hoouna aku ai ia'u, a ua lawe mai au ia Agaga, i ke alii o ka Amaleka, a ua luku loa aku au i ka Amaleka.
21Nhưng dân sự có chọn trong của cướp, chiên và bò, là vật tốt nhất về của đáng tận diệt, đặng dâng cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ông tại Ghinh-ganh.
21Aka, ua lawe na kanaka i ka waiwai pio, i ka hipa, a me ka bipi, i na mea maikai o na mea laa, i mea e kaumaha aku ai ia Iehova i kou Akua ma Gilegala.
22Sa-mu-ên nói: Đức Giê-hô-va há đẹp lòng của lễ thiêu và của lễ thù ân bằng sự vâng theo lời phán của Ngài ư? Vả, sự vâng lời tốt hơn của tế lễ; sự nghe theo tốt hơn mỡ chiên đực;
22I aku la o Samuela, Ua like anei ka oluolu o Iehova i na mohaikuni, a i na alana, me ka hoolohe ana i ka leo o Iehova? Aia hoi, ua oi aku ka pono o ka hoolohe ana, mamua o ka mohai, a o ka maliu ana, mamua o ka momona o na hipakane.
23sự bội nghịch cũng đáng tội bằng sự tà thuật; sự cố chấp giống như tội trọng cúng lạy hình tượng. Bởi ngươi đã từ bỏ lời của Đức Giê-hô-va, nên Ngài cũng từ bỏ ngươi không cho ngươi làm vua.
23No ka mea, o ke kipi, ua like ia me ka hewa o ka anaana, a o ka hoopaakiki, me ka lapuwale o ka hoomanakii: no kou haalele ana i ka olelo a Iehova, ua haalele mai ia ia oe, aole oe ke alii.
24Sau-lơ đáp cùng Sa-mu-ên rằng: Tôi có phạm tội. Tôi đã can phạm mạng lịnh Đức Giê-hô-va, và lời của ông. Tôi sợ dân sự, nên nghe theo tiếng của họ.
24I mai la o Saula ia Samuela, Ua hewa au; no ka mea, ua malama ole au i ke kauoha a Iehova, a me kau mau olelo, no kuu makau ana i na kanaka, a ua hoolohe au i ko lakou leo.
25Bây giờ, xin ông hãy tha tội tôi, trở lại cùng tôi, thì tôi sẽ sấp mình xuống trước mặt Đức Giê-hô-va.
25Ano hoi, ke noi aku nei au ia oe, e kala mai oe i kuu hewa, a e huli ae me au, a e hoomana aku ia Iehova.
26Sa-mu-ên nói cùng Sau-lơ rằng: Ta không trở lại cùng ngươi đâu; vì ngươi đã từ bỏ lời của Đức Giê-hô-va, nên Đức Giê-hô-va từ bỏ ngươi, để ngươi chẳng còn làm vua của Y-sơ-ra-ên nữa.
26I aku la o Samuela ia Saula, Aole au e huli ae me oe; no ka mea, ua haalele oe i ke kauoha a Iehova, a ua haalele mai o Iehova ia oe, aole oe ke alii maluna o ka Iseraela.
27Khi Sa-mu-ên xây lưng đặng đi, Sau-lơ nắm vạt áo tơi người, thì áo bèn rách.
27A i ka huli ana ae o Samuela e hele aku, lalau mai la kela i ka lepa o kona aahu, a nahae iho la ia.
28Sa-mu-ên nói cùng người: Aáy ngày nay Đức Giê-hô-va xé nước Y-sơ-ra-ên khỏi ngươi là như vậy, đặng ban cho kẻ lân cận ngươi, xứng đáng hơn ngươi.
28I aku la o Samuela ia ia, Ua hoonahae mai o Iehova i ke aupuni mai ou aku la i keia la, a ua haawi aku ia mea i kekahi hoalauna ou, ua oi aku kona pono i kou.
29Vả lại, Đấng phù hộ Y-sơ-ra-ên chẳng nói dối, và không ăn năn; vì Đấng ấy chẳng phải loài người mà ăn năn!
29Aole no hoi e hoopunipuni ka Oiaio o ka Iseraela, aole hoi ia e mihi; no ka mea, aole no ia he kanaka, i mihi ai oia.
30Sau-lơ đáp rằng: Tôi có tội; song xin hãy tôn trọng tôi trước mặt các trưởng lão của dân sự tôi, và trước mặt Y-sơ-ra-ên; xin ông trở lại cùng tôi, thì tôi sẽ thờ lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ông.
30I mai la ia, Ua hewa au; ke noi aku nei au ia oe, ano e hoomaikai mai oe ia'u imua o na lunakahiko o kuu poe kanaka, a imua hoi o ka Iseraela, a e huli hou ae me au, i hoomana aku ai au ia Iehova i kou Akua.
31Vậy, Sa-mu-ên trở lại theo Sau-lơ; và Sau-lơ sấp thờ lạy Đức Giê-hô-va.
31A huli hou ae la o Samuela mahope o Saula, a hoomana aku la o Saula ia Iehova.
32Đoạn, Sa-mu-ên nói: Hãy dẫn A-ga, vua A-ma-léc đến ta. A-ga đi đến người, bộ vui mừng, vì tưởng rằng: Quả hẳn, điều cay đắng của sự chết đã qua rồi.
32Alaila, i aku la o Samuela, E kaina mai o Agaga, ke alii o ka Amaleka i o'u nei: a hele olioli mai o Agaga, i mai la, He oiaio, ua hala aku la ka awaawa o ka make.
33Nhưng Sa-mu-ên nói cùng người rằng: Hễ gươm ngươi đã làm người đàn bà không có con thế nào, thì mẹ ngươi cũng sẽ không có con thể ấy. Sa-mu-ên bèn giết A-ga trước mặt Đức Giê-hô-va tại Ghinh-ganh.
33I aku la o Samuela, E like me kau pahikaua i hoonele ai i na wahine i keiki ole, pela hoi e hooneleia'i kou makuwahine i ke keiki ole iwaena o na wahine. Oki liilii iho la o Samuela ia Agaga imua o Iehova ma Gilegala.
34Đoạn, Sa-mu-ên đi về Ra-ma; còn Sau-lơ trở về nhà mình tại Ghi-bê-a của Sau-lơ.
34A hele aku la o Samuela ma Rama; a pii ae la o Saula i kona hale ma Gibea o Saula.
35Sa-mu-ên chẳng còn thấy Sau-lơ nữa cho đến ngày mình thác; vì người buồn bực về việc Sau-lơ; còn Đức Giê-hô-va ăn năn đã lập Sau-lơ làm vua của Y-sơ-ra-ên.
35Aole hele hou o Samuela e ike ia Saula, a hiki i kona la e make ai; aka, uwe iho la o Samuela ia Saula: a mihi iho la o Iehova i kona hooalii ana ia Saula maluna o ka Iseraela.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.