I Sam
Chapter 11
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Baibala Hemolele (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Na-hách, người Am-môn, đi ra đến vây Gia-be trong Ga-la-át. Cả dân Gia-be nói cùng Na-hách rằng: Hãy lập ước cùng chúng tôi, thì chúng tôi sẽ phục sự ông.
1A HELE mai o Nahasa no ka Amona, a hoomoana ku e ia Iabesa-gileada: a olelo mai la na kanaka a pau o Iabesa ia Nahasa, E hana oe i kuikahi me makou, alaila e hookauwa aku makou nau.
2Na-hách, người Am-môn, đáp rằng: Ta sẽ lập ước cùng các ngươi theo cách nầy: phải khoét hết thảy con mắt hữu của các ngươi, để gieo sự sỉ nhục cho cả Y-sơ-ra-ên.
2I mai la o Nahasa no ka Amona ia lakou, Penei ka'u e hana'i me oukou, e poalo aku au i na maka akau a pau o oukou, a kau aku ia i mea hoino maluna o ka Iseraela a pau.
3Các trưởng lão Gia-be nói cùng người rằng: Xin hãy cho chúng tôi bảy ngày đình chiến, chúng tôi sẽ sai sứ giả đến khắp địa phận Y-sơ-ra-ên; nếu không ai giải cứu chúng tôi, thì chúng tôi sẽ đi ra hàng đầu.
3Olelo aku la na lunakahiko o Iabesa ia ia, E ahonui mai oe ia makou i na la ehiku, i hoouna aku ai makou i na elele ma na wahi a pau o ka Iseraela; ina paha aohe mea nana makou e hoopakele, alaila e hele makou i ou la.
4Vậy, những sứ giả đi đến Ghi-bê-a, thành của Sau-lơ, thuật lại các lời ấy cho dân sự nghe. Cả dân sự bèn cất tiếng lên khóc.
4A hele mai na elele ma Gibea no Saula, a hai mai i na olelo maloko o ka pepeiao o na kanaka: a hookiekie ae la na kanaka a pau i ko lakou leo iluna, a uwe aku la.
5Lúc ấy, Sau-lơ ở ruộng trở về, đi sau bò mình; người hỏi rằng: Cớ chi dân sự khóc như vậy? Người ta thuật lại lời các người Gia-be đã nói.
5Aia hoi, hele mai la o Saula mahope o na bipi mai kula mai, ninau mai la o, Saula, No ke aha la i uwe ai na kanaka? A hai mai lakou ia ia i na mea no na kanaka o Iabesa.
6Vừa nghe tin nầy, Sau-lơ được Thần của Đức Chúa Trời cảm động, và cơn giận người nổi phừng phừng.
6A hiki mai ka Uhane o ke Akua maluna o Saula, a wela nui kona inaina.
7Người bắt một cặp bò, sả ra từng miếng, gởi cho sứ giả đem đến khắp địa phận Y-sơ-ra-ên với lời rao nầy: Phàm ai không ra theo Sau-lơ và Sa-mu-ên, thì các con bò nó tất sẽ bị làm như vậy. Sự kinh khủng của Đức Giê-hô-va giáng trên dân sự, nên hết thảy chúng đều đi ra như chỉ một người.
7Lawe ae la o Saula i mau bipikane kaulua, a okioki liilii ia laua, a hoouna aku la ma na lima o ka poe elele i na mokuna a pau o ka Iseraela, i ka i ana'ku, Pela e hanaia'i na bipi a ka mea hele ole mamuli o Saula a mamuli o Samuela. A kau mai la ka makau o Iehova i na kanaka, a hele mai lakou me ka manao lokahi.
8Sau-lơ kiểm điểm chúng tại Bê-xéc; có ba trăm ngàn người Y-sơ-ra-ên và ba mươi ngàn người Giu-đa.
8A helu aku la oia ia lakou ma Bezeka, akolu haneri tausani o na mamo a Iseraela, a he kanakolu tausani kanaka o ka Iuda.
9Chúng nói cùng sứ giả đã đến rằng: Hãy nói cùng người Gia-be trong Ga-la-át: Đến mai, khi mặt trời đã nắng nóng, thì anh em sẽ được giải cứu. Những sứ giả đi về thuật lại các lời nầy cho dân Gia-be. Dân nầy lấy làm vui mừng,
9I aku la lakou i na elele i hele mai. Peneia oukou e olelo aku ai i na kanaka o Iabesa-gileada, Apopo a wela mai ka la, e hoopakeleia oukou. A hoi aku la na elele, a hoike aku la i na kanaka o Iabesa; olioli iho la lakou.
10và nói cùng người Am-môn rằng: Ngày mai, chúng ta sẽ đi ra cùng các ngươi, các ngươi sẽ đãi chúng ta theo ý mình lấy làm phải.
10No ia mea, i aku la na kanaka o Iabesa, Apopo e hele aku makou iwaho io oukou la, a e hana mai oukou ia makou i na mea a pau a oukou e makemake ai.
11Nhưng sáng ngày mai, Sau-lơ chia dân sự ra làm ba đạo, hãm dinh dân Am-môn vừa lúc canh năm, và đánh dân Am-môn cho đến gần đứng bóng. Những người thoát khỏi thì bị tản lạc đến đỗi không có hai người chung nhau.
11A i ka la apopo, hoonoho iho la o Saula i na kanaka i ekolu poe; a hele lakou iwaena konu o ka poe kaua i ka moku ana o ka pawa o ke ao, a pepehi iho la i ka Amora a hiki i ka wela o ka la: a o ke koena, hele liilii aku la lakou, aole elua kanaka ma kahi hookahi.
12Dân sự nói cùng Sa-mu-ên rằng: Ai đã nói: Sau-lơ há sẽ trị vì trên chúng ta sao? Hãy phó những người đó cho chúng tôi giết đi.
12Ninau mai la na kanaka ia Samuela, Owai ka i olelo, E alii anei o Saula maluna o kakou? E lawe mai i ua poe kanaka la, a e pepehi makou ia lakou.
13Nhưng Sau-lơ đáp: Chẳng ai sẽ bị xử tử trong ngày nay; vì ngày nay Đức Giê-hô-va đã làm sự giải cứu trong Y-sơ-ra-ên.
13Olelo mai la o Saula, Aole e pepehiia kekahi kanaka i keia la: no ka mea, ua hana mai o Iehova i ke ola iloko o ka Iseraela i keia la.
14Sa-mu-ên nói cùng dân sự rằng: Chúng ta hãy đi đến Ghinh-ganh đặng lập nước lại.
14Olelo aku la o Samuela i na kanaka, Ina kakou e hele ma Gilegala, a e hookupaa ilaila i ke aupuni.
15Cả dân sự đều đi đến Ghinh-ganh; tại đó, trước mặt Đức Giê-hô-va, chúng lập Sau-lơ làm vua. Tại đó chúng dâng của lễ thù ân cho Đức Giê-hô-va. Đoạn, Sau-lơ và hết thảy người Y-sơ-ra-ên vui mừng khôn xiết.
15A hele na kanaka a pau ma Gilegala; a hooalii aku la lakou ia Saula ilaila imua o Iehova ma Gilegala: a ilaila lakou i kaumaha aku ai i na mohai hoomalu imua o Iehova; a hauoli nui iho la o Saula, a me na kanaka a pau o ka Iseraela ilaila.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.