1. Цареви 2
Daničić–Karadžić Bible (1868), CyrillicTranslation
Daničić–Karadžić Bible (1868), Cyrillic
Vietnamese Bible (1923 translation)
1А кад дође време Давиду да умре, заповеди Соломуну, сину свом говорећи:
1Khi ngày của Đa-vít hầu trọn, người truyền lịnh cho Sa-lô-môn, con trai mình, mà rằng:
2Ја идем куд иде све на земљи; а ти буди храбар и буди човек.
2Ta hầu đi con đường chung của cả thế gian, khá mạnh dạn và nên người trượng phu!
3И држи шта ти је Господ Бог твој заповедио да држиш, ходећи путевима Његовим и држећи уредбе Његове и заповести Његове и законе Његове и сведочанства Његова, како је написано у закону Мојсијевом, да би напредовао у свему што узрадиш и за чим се год окренеш,
3Hãy giữ điều Giê-hô-va Đức Chúa Trời muốn con giữ, để đi trong đường lối Ngài, gìn giữ những luật pháp, điều răn, mạng lịnh, và sự dạy dỗ của Ngài, y như đã chép trong luật pháp của Môi-se, hầu cho con làm điều chi hay là đi nơi nào cũng đều được thành công,
4да би Господ испунио реч своју коју ми је рекао говорећи: Ако успазе синови твоји на пут свој ходећи преда мном верно, свим срцем својим и свом душом својом, тада ти неће нестати човека на престолу Израиљевом.
4và Đức Giê-hô-va sẽ làm ứng nghiệm lời Ngài đã phán về ta, rằng: Nhược bằng các con trai ngươi cẩn thận về đường lối mình, hết lòng, hết ý theo lẽ thật mà đi ở trước mặt ta, thì ngươi sẽ chẳng hề thiếu người ngồi trên ngôi Y-sơ-ra-ên.
5А ти знаш шта ми је учинио Јоав, син Серујин, шта је учинио двема војводама Израиљевим, Авениру сину Нировом и Амаси сину Јетеровом, које уби проливши у миру крв као у рату, и окаља крвљу као у рату појас свој око себе, и обућу своју на ногу.
5Con biết sự Giô-áp, con trai Xê-ru-gia, đã làm cho cha, sự nó đã làm cho hai quan tướng của Y-sơ-ra-ên, là Aùp-ne, con trai của Nê-rơ, và A-ma-sa, con trai của Giê-the, là hai người nó đã giết, làm đổ huyết ra trong lúc hòa bình như trong cơn chiến trận, và khiến cho huyết đổ ra trong chiến trận dính vào đai nó thắt lưng, cùng vào giày nó mang nơi chân.
6Учини дакле по мудрости својој, и немој дати да се седа глава његова спусти с миром у гроб.
6Con hãy cứ sự khôn ngoan con mà cư xử, chớ để đầu bạc nó xuống âm phủ cách bình yên.
7Синовима пак Варзелаја од Галада учини милост, и нека буде међу онима који једу за твојим столом, јер су тако дошли к мени кад сам бежао од Авесалома, брата твог.
7Con hãy ở với các con trai Bát-xi-lai, người Ga-la-át, cách nhân từ cho họ ăn đồng bàn cùng con; vì chính chúng nó đã đãi cha như vậy, mà đến đón rước cha, lúc cha chạy trốn trước mặt Aùp-sa-lôm, anh con.
8И ето, код тебе је Симеј, син Гирин од Венијамина из Ваурима, који ме је љуто ружио кад иђах у Маханајим; али ми дође на сусрет на Јордан, и заклех му се Господом рекавши: Нећу те убити мачем.
8Nầy còn kẻ ở với con, là Si-mê-i, con trai Ghê-ra, người Bên-gia-min, ở Ba-hu-rim, là kẻ lấy những lời độc ác mà nguyền rủa cha trong ngày cha đi đến Ma-ha-na-im; nhưng nó xuống đón cha tại Giô-đanh, thì cha đã nhân danh Đức Giê-hô-va mà thề với nó rằng: Ta sẽ chẳng giết ngươi bằng gươm.
9Али му ти немој опростити, јер си мудар човек и знаћеш шта ћеш му учинити, да оправиш седу главу његову с крвљу у гроб.
9Bây giờ, con chớ để nó khỏi phạt, vì con là khôn ngoan, biết thế nào phải xử nó: con khá làm cho đầu bạc nó dính máu mà xuống âm phủ.
10Тако почину Давид код отаца својих, и би погребен у граду Давидовом.
10Đa-vít an giấc với các tổ phụ mình, và được chôn trong thành Đa-vít.
11А царова Давид над Израиљем четрдесет година: у Хеврону царова седам година, а у Јерусалиму царова тридесет и три године.
11Những ngày Đa-vít trị vì trên Y-sơ-ra-ên là bốn mươi năm: người trị vì bảy năm tại Hếp-rôn, và ba mươi ba năm tại Giê-ru-sa-lem.
12И Соломун седе на престо Давида оца свог, и царство се његово утврди јако.
12Đoạn, Sa-lô-môn ngồi trên ngai Đa-vít, cha mình, và nước người được lập rất vững bền.
13Тада дође Адонија, син Агитин, к Витсавеји матери Соломуновој; а она рече: Јеси ли добро дошао? А он рече: Добро.
13A-đô-ni-gia, con trai Ha-ghít, đến cùng Bát-sê-ba, mẹ của Sa-lô-môn. Bà nói: Ngươi đến có ý bình an chớ? Người thưa rằng: Phải, có ý bình an.
14Потом рече: Имам нешто да ти кажем. А она рече: Говори.
14Người lại rằng: Tôi có một lời nói cùng bà. Bà đáp: Hãy nói.
15Тада рече: Ти знаш да је моје било царство, и да је у мене био упро очи сав Израиљ да ја будем цар; али се царство пренесе и допаде брату мом, јер му га Господ даде.
15Người tiếp: Bà biết rằng nước vốn thuộc về tôi, và cả Y-sơ-ra-ên đều mong thấy tôi trị vì; nhưng ngôi nước đã trở nên của em tôi, vì do nơi Đức Giê-hô-va mà thuộc về người.
16Зато те сад молим за једно; немој ме одбити. А она му рече: Говори.
16Vậy bây giờ, tôi có một sự xin với bà, chớ từ chối. Bà đáp: Hãy nói.
17А он рече: Говори цару Соломуну, јер ти он неће одбити, нека ми да за жену Ависагу Сунамку.
17Người nói: Xin bà hãy nói với vua Sa-lô-môn (vì người chẳng chối gì với bà), và cầu người cho tôi lấy A-bi-sác, người Su-nem, làm vợ.
18А Витсавеја рече: Добро, ја ћу говорити цару за те.
18Bát-Sê-ba đáp: Được, ta sẽ nói với vua giùm cho ngươi.
19И дође Витсавеја к цару Соломуну да му говори за Адонију; а цар уста и срете је и поклонивши јој се седе на свој престо, и заповеди те наместише столицу матери његовој, и она седе њему с десне стране.
19Bát-Sê-ba đi đến vua Sa-lô-môn, để nói với người giùm cho A-đô-ni-gia. Vua đứng dậy đi đón bà, cúi xuống lạy bà; đoạn, người ngồi trên ngai mình, và sai đặt một ngai khác cho mẹ mình; bà bèn ngồi bên tay hữu vua.
20Тада она рече: Искала бих од тебе једну малу ствар, немој ме одбити. А цар јој рече: Ишти, мајко, нећу те одбити.
20Bà nói với vua rằng: Mẹ có một việc nhỏ xin con, con chớ từ chối. Vua đáp: Mẹ ôi! xin hãy nói; vì tôi sẽ chẳng từ chối với mẹ đâu.
21Она рече: Подај Ависагу Сунамку Адонији, брату свом за жену.
21Bà tiếp: Hãy ban A-bi-sác, người Su-nem, làm vợ A-đô-ni-gia, là anh con.
22А цар Соломун одговори матери својој и рече: Зашто иштеш Ависагу Сунамку за Адонију? Ишти и царство за њ, јер је он брат мој старији и има уза се Авијатара свештеника и Јоава сина Серујиног.
22Nhưng vua Sa-lô-môn thưa cùng mẹ mình rằng: Cớ sao mẹ xin A-bi-sác, người Su-nem, cho A-đô-ni-gia? Cũng hãy xin nước cho người luôn, vì người là anh cả tôi; hãy xin cho người, cho thầy tế lễ A-bia-tha, và cho Giô-áp, con trai Xê-ru-gia.
23И закле се цар Соломун Господом говорећи: Тако да ми учини Бог и тако да дода, себи на смрт каза то Адонија данас.
23Vua Sa-lô-môn bèn chỉ Đức Giê-hô-va mà thề rằng: A-đô-ni-gia có nói lời đó nghịch với mạng sống mình; bằng chẳng, nguyện Đức Chúa Trời xử tôi cách nặng nề!
24И зато, тако да је жив Господ, који ме је утврдио и посадио ме на престолу Давида оца мог, и који ми је начинио кућу као што је рекао, данас ће погинути Адонија.
24Bây giờ, tôi chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống, là Đấng đã làm cho tôi vững vàng, và khiến tôi ngồi trên ngai của Đa-vít, cha tôi, cùng lập một nhà cho tôi y như lời Ngài đã hứa, mà thề rằng: A-đô-ni-gia sẽ bị xử tử chính ngày hôm nay.
25И посла цар Соломун Венају, сина Јодајевог, који уложи на њ, те погибе.
25Vua Sa-lô-môn bèn truyền lịnh cho Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa, xông đánh A-đô-ni-gia, thì người chết.
26А Авијатару свештенику рече цар: Иди у Анатот на њиву своју, јер си заслужио смрт, али те нећу данас погубити, јер си носио ковчег Господњи пред Давидом оцем мојим и подносио си све невоље које је подносио отац мој.
26Đoạn, vua nói với thầy tế lễ A-bia-tha rằng: Hãy lui về A-na-tốt, trong đất ngươi, vì ngươi đáng chết. Song ngày nay ta không giết ngươi, vì ngươi có khiêng hòm giao ước của Chúa Giê-hô-va, trước mặt Đa-vít, là cha ta, và bởi vì ngươi đã bị hoạn nạn trong các sự hoạn nạn của cha ta.
27Тако Соломун сврже Авијатара да не буде свештеник Господњи, да испуни реч Господњу што рече у Силому за дом Илијев.
27Như vậy, Sa-lô-môn đuổi A-bia-tha ra đi không cho làm thầy tế lễ của Đức Giê-hô-va nữa, hầu cho lời của Đức Giê-hô-va đã phán về nhà Hê-li, tại Si-lô, được ứng nghiệm.
28И овај глас дође до Јоава; а Јоав беше пристао за Адонијом, премда за Авесаломом не беше пристао; и утече Јоав у шатор Господњи и ухвати се за рогове олтару.
28Tin này thấu đến Giô-áp. (Vả Giô-áp đã theo phe A-đô-ni-gia, dầu không có theo phe của Aùp-sa-lôm). Người liền trốn đến Đền tạm của Đức Giê-hô-va, và nắm sừng của bàn thờ.
29И јавише цару Соломуну: Јоав утече у шатор Господњи, и ено га код олтара. А Соломун посла Венају сина Јодајевог говорећи: Иди, уложи на њ.
29Người ta đến tâu với vua Sa-lô-môn rằng: Giô-áp đã trốn đến Đền tạm của Đức Giê-hô-va, và kìa người đứng bên cạnh bàn thờ. Sa-lô-môn bèn sai Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa, mà dặn rằng: Hãy đi đánh giết hắn đi.
30И ушавши Венаја у шатор Господњи рече му: Цар је казао: Изиђи. А он рече: Нећу; него овде хоћу да умрем. А Венаја јави цару говорећи: Тако рече Јоав и тако ми одговори.
30Bê-na-gia đi đến Đền tạm của Đức Giê-hô-va, nói cùng Giô-áp rằng: Vua có nói như vầy: Hãy ra khỏi đó. Giô-áp đáp: Không; ta muốn chết tại đây. Bê-na-gia đi thuật lại cho vua, và tâu rằng: Giô-áp đã nói và đáp lại như vậy.
31А цар му рече: Учини како је рекао, уложи на њ, и погреби га, и скини с мене и с дома оца мог крв праву коју је пролио Јоав.
31Vua nói rằng: Hãy làm y như hắn nói. Hãy giết hắn và chôn đi. Như vậy, ngươi sẽ cất khỏi ta và khỏi nhà cha ta huyết mà Giô-áp đã đổ ra vô cớ.
32И нека Господ обрати крв његову на његову главу, што уложи на два човека праведнија и боља од себе, и уби их мачем без знања оца мог Давида: Авенира сина Нировог војводу Израиљевог и Амасу сина Јетеровог војводу Јудиног;
32Đức Giê-hô-va sẽ khiến huyết hắn đổ lại trên đầu hắn, vì hắn đã xông vào hai người công bình hơn, tốt hơn hắn, và giết họ bằng gươm, mà Đa-vít, cha ta, không hay đến chi cả: ấy là Aùp-ne, con trai của Nê-rơ, quan tướng của đạo binh Y-sơ-ra-ên, và A-ma-sa, con trai Giê-the, quan tướng của đạo binh Giu-đa.
33нека се дакле крв њихова врати на главу Јоавову и на главу семена његовог довека; а Давиду и семену његовом и дому његовом и престолу његовом нека буде мир довека од Господа.
33Huyết hai người ấy sẽ đổ lại trên đầu Giô-áp và trên đầu của dòng dõi nó cho đến đời đời; còn phần Đa-vít và dòng dõi người, nhà và ngôi nước người sẽ nhờ Đức Giê-hô-va mà được bình yên mãi mãi.
34И отиде Венаја, син Јодајев, и уложи на њ и погуби га, и би погребен код куће своје у пустињи.
34Vậy, Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa, trở lên xông vào Giô-áp và giết người. Người được chôn ở nhà người, tại nơi đồng vắng.
35Тада постави цар Венају, сина Јодајевог, на његово место над војском, а Садока свештеника постави цар на место Авијатарово.
35Vua đặt Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa, làm quan tổng binh thay cho Giô-áp, và lập Xa-đốc làm thầy tế lễ thay cho A-bia-tha.
36Потом посла цар и дозва Симеја, и рече му: Сагради себи кућу у Јерусалиму, па ту седи, и не излази одатле никуда.
36Đoạn, vua sai đòi Si-mê-i, và nói với người rằng: Hãy cất cho ngươi một cái nhà tại Giê-ru-sa-lem, và ở đó; chớ ra đặng đi đầu này đầu kia.
37Јер у који дан изиђеш и пређеш преко потока Кедрона, знај зацело да ћеш погинути, и крв ће твоја пасти на твоју главу.
37Vì khá biết rằng ngày nào ngươi ra khỏi đó, và đi qua khe Xết-rôn, thì chắc ngươi sẽ chết: huyết ngươi sẽ đổ lại trên đầu ngươi.
38А Симеј рече цару: Добра је та реч; како је рекао господар мој цар, тако ће учинити слуга твој. И седе Симеј у Јерусалиму дуго времена.
38Si-mê-i thưa với vua rằng: Lời ấy phải lắm, vua chúa tôi phán dặn điều gì, kẻ tôi tớ vua sẽ làm điều đó. Vậy, Si-mê-i ở lâu ngày tại Giê-ru-sa-lem.
39Али се догоди после три године, те утекоше две слуге Симејеве к Ахису, сину Машином цару гатском. И би јављено Симеју: Ено ти слугу у Гату.
39Cuối ba năm, xảy có hai kẻ tôi tớ của Si-mê-i trốn đến nhà A-kích, con trai Ma-a-ca, vua của Gát. Người ta đến thuật điều đó cho Si-mê-i mà rằng: Kìa, hai kẻ tôi tớ ông ở tại Gát.
40Тада уста Симеј, и осамари свог магарца, и отиде у Гат к Ахису да тражи слуге своје. И врати се Симеј, и доведе натраг слуге своје из Гата.
40Si-mê-i chổi dậy, thắng lừa mình, đi đến Gát, nơi nhà A-kích, đặng tìm hai kẻ tôi tớ mình. Gặp đoạn, bèn dẫn chúng nó về.
41И јавише Соломуну да је Симеј био отишао из Јерусалима у Гат, и да се вратио.
41Người ta thuật cho Sa-lô-môn rằng Si-mê-i ở Giê-ru-sa-lem đã đi đến Gát, rồi trở về.
42Тада цар пославши дозва Симеја, и рече му: Нисам ли те заклео Господом и нисам ли ти тврдо рекао: У који дан изиђеш куда му драго, знај зацело да ћеш погинути? И ти ми рече: Добра је та реч коју чух.
42Vua sai đòi Si-mê-i mà phán rằng: Ta há chẳng có bắt ngươi chỉ Đức Giê-hô-va mà thề, và bảo ngươi trước rằng: Khá biết rằng ngày nào ngươi ra, và đi đầu này đầu kia, thì ngươi chắc sẽ chết sao? Và ngươi có thưa cùng ta rằng: Lời tôi đã nghe, thậm phải?
43Зашто, дакле, ниси држао заклетву Господњу и заповест коју сам ти заповедио?
43Vậy, cớ sao ngươi không giữ lời chỉ Đức Giê-hô-va mà thề, và mạng lịnh ta đã truyền cho ngươi?
44Потом рече цар Симеју: Ти знаш све зло за које зна срце твоје, шта си учинио Давиду оцу мом; Господ враћа твоје зло на твоју главу.
44Vua lại nói với Si-mê-i rằng: Ngươi biết mọi sự ác ngươi đã làm cho Đa-vít, là cha ta, mà lòng ngươi vẫn còn nhớ lắm. Vậy nên Đức Giê-hô-va sẽ khiến sự ác của ngươi đổ lại tên đầu ngươi.
45А цар ће Соломун бити благословен и престо Давидов утврђен пред Господом до века.
45Nhưng vua Sa-lô-môn sẽ được phước, và ngôi của Đa-vít sẽ được lập vững bền trước mặt Đức Giê-hô-va đến đời đời.
46И заповеди цар Венаји сину Јодајевом, те изиђе и уложи на њ, те погибе. И царство се утврди у руци Соломуновој.
46Đoạn, vua truyền lịnh cho Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa; người bèn đi ra đánh giết Si-mê-i. Như vậy, ngôi nước được vững bền trong tay Sa-lô-môn.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.