Mareko 6
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1HAALELE iho la ia i kela wahi, a hele i kona aina iho; a hahai aku la kana poe haumana ia ia.
1Đức Chúa Jêsus đi khỏi đó, đến quê hương mình, có các môn đồ cùng đi theo.
2A hiki i ka la Sabati, hoomaka ia e ao mai iloko o ka halehalawai; a nui loa ka poe i lohe, a kahaha ka naau, i ae la, Nohea la ia mau mea a ia nei? Heaha hoi keia akamai i haawiia'e nana, a me keia hana mana i hanaia'i e kona mau lima?
2Đến ngày Sa-bát, Ngài bắt đầu dạy dỗ trong nhà hội; thiên hạ nghe Ngài, lấy làm lạ mà nói rằng: Người bởi đâu được những điều nầy? Sự khôn sáng mà người được ban cho là gì, và thể nào tay người làm được những phép lạ dường ấy?
3Aole anei keia o ke kamana, o ke keiki a Maria, ka hoahanau o Iakobo, a me Iose, a me Iuda, a me Simona? Aole anei kona mau kaikuwahine maanei me kakou? Kuia iho la lakou ia ia.
3Có phải người là thợ mộc, con trai Ma-ri, anh em với Gia-cơ, Giô-sê, Giu-đê, và Si-môn chăng? Chị em người há chẳng phải ở giữa chúng ta đây ư? Chúng bèn vấp phạm vì cớ Ngài.
4I mai la Iesu ia lakou, Aohe kaula i mahalo ole ia ma kahi e, aia ma kona aina iho no, a i kona hanauna, a i kona hale.
4Song Đức Chúa Jêsus phán cùng họ rằng: Đấng tiên tri chỉ bị quê hương mình, bà con mình và trong nhà mình khinh dể mà thôi.
5Aole ia i hiki ke hana i na hana mana ilaila, he mau mea mai wale no nae kana i hoola'i, i ke kau ana o kona mau lima iluna iho o lakou.
5ỳ đó, Ngài không làm phép lạ nào được, chỉ đặt tay chữa lành một vài người đau ốm;
6A kahaha iho la ia no ko lakou hoomaloka ana: hele ae la ia i na kauhale, e ao ana ia lakou.
6và Ngài lấy làm lạ vì chúng chẳng tin. Rồi Ngài đi khắp các làng gần đó mà giảng dạy.
7Alaila houluulu mai la ia i ka poe umikumaraalua, a hoomaka e hoouna papalua ae la ia lakou, a haawi mai la i ka mana na lakou maluna iho o na uhane ino.
7Ngài bèn kêu mười hai sứ đồ, bắt đầu sai đi từng đôi, ban quyền phép trừ tà ma.
8Papa mai la oia ia lakou, mai lawe oukou i kekahi mea no ka hele ana, i kookoo wale no, aohe puolo, aohe berena, aohe kala iloko o ka hipuu.
8Ngài truyền cho sứ đồ đi đường đừng đem chi theo hết, hoặc bánh, hoặc bao, hoặc tiền bạc trong dây lưng, chỉ đem một cây gậy mà thôi;
9E hawele i na kamaa, aole hoi e papalua ke kapa komo.
9chỉ mang dép, đừng mặc hai áo.
10I mai la oia ia lakou, A i na wahi a pau loa a oukou e komo ai iloko o ka hale, e noho iho oukou malaila, a hiki i ka wa e haalele ai oukou ia wahi.
10Ngài phán cùng sứ đồ rằng: Hễ nhà nào các ngươi sẽ vào, hãy cứ ở đó, cho đến khi đi.
11A o ka mea hookipa ole mai ia oukou, aole hoi e hoolohe mai i ka oukou, a i ko oukou hele ana aku, e lulu i ka lepo malalo o ko oukou mau wawae, i mea hoike no lakou. Oiaio ke olelo aku nei au ia oukou, i ka la hoopai, e aho no ka make ana o ko Sodoma a me Gomora, i ko ia kulanakauhale.
11Nếu có chỗ nào, người ta không chịu tiếp các ngươi, và cũng không nghe các ngươi nữa, thì hãy đi khỏi đó, và phủi bụi đã dính chân mình, để làm chứng cho họ.
12Hele ae la lakou iwaho, ao aku la i kanaka, e mihi lakou.
12Vậy, các sứ đồ đi ra, giảng cho người ta phải ăn năn;
13Mahiki aku la lakou i na daimonio he nui, a hamo ae lakou me ka aila i kanaka mai he nui loa, a hoola ae la ia lakou.
13đuổi nhiều ma quỉ, xức dầu cho nhiều kẻ bịnh và chữa cho được lành.
14A lohe ae la o Herode, ke alii, (no ka mea, ua kaulana aku ko Iesu mea,) i ae la ia, Ua ala hou mai nei o Ioano Bapetite, maiwaena mai o ka poe make, no ia mea, ua hoikeia na hana mana, ma o na la.
14Vả, vua Hê-rốt nghe nói về Đức Chúa Jêsus (vì danh tiếng Ngài đã trở nên lừng lẫy), thì nói rằng: Giăng, là người làm phép báp-tem, đã từ kẻ chết sống lại; cho nên tự người làm ra các phép lạ.
15Olelo ae la kekahi poe, O Elia keia: a olelo ae la kekahi poe, He kaula ia, a he mea like me kekahi o ka poe kaula.
15Người thì nói: Aáy là Ê-li; kẻ thì nói: Aáy là đấng tiên tri, như một trong các đấng tiên tri đời xưa.
16Lohe ae la o Herode, i ae la ia, o Ioane keia, nona ke poo a'u i oki ai; na ola hou mai ia, maiwaena mai o ka poe make.
16Nhưng Hê-rốt nghe vậy, thì nói rằng: Aáy là Giăng mà ta đã truyền chém, người đã sống lại.
17No ka mea, ua hoouna aku o Herode, a hopu ia Ioane, a hoopau ia ia iloko o ka halepaahao, no Herodia, no ka wahine a Pilipo, a kona kaikaina; no ka mea, ua mare o Herode me ia.
17Số là, Hê-rốt đã sai người bắt Giăng, và truyền xiềng lại cầm trong ngục, bởi cớ Hê-rô-đia, vợ Phi-líp em vua, vì vua đã cưới nàng,
18A ua olelo aku o Ioano ia ia, Aole pono kou lawe ana i ka wahine a Kou kaikaina.
18và Giăng có can vua rằng: Vua không nên lấy vợ em mình.
19No ia mea i nkiuki ai o Herodia ia ia, manao iho la no hoi e pepehi ia ia, aole nae i hiki;
19Nhân đó, Hê-rô-đia căm Giăng, muốn giết đi.
20No ka mea, na makau o Herode ia Ioane ua ike ia, ho kanaka pono oia, a me ka hemolele, a malama no o Herode ia ia, a hoolohe no i kana, a nui na mea ana i haua'i me ka hoolohe oluolu ia ia.
20Nhưng không thể giết, vì Hê-rốt sợ Giăng, biết là một người công bình và thánh. Vua vẫn gìn giữ người, khi nghe lời người rồi, lòng hằng bối rối, mà vua bằng lòng nghe.
21A hiki mai ka la maopopo a Herode i hoomakaukau ai i ahaaina hanau no kana mau alii, a me na lunatausani, a no na mea koikoi o Galilaia;
21Nhưng, vừa gặp dịp tiện, là ngày sanh nhựt Hê-rốt, vua đãi tiệc các quan lớn trong triều, các quan võ, cùng các người tôn trưởng trong xứ Ga-li-lê.
22Alaila, komo ae la ke kaikamahine a Herodia, a haa iho la ia, a olioli o Herode ia ia, a me ka poe e noho pu ana me ia; alaila, olelo mai la ke alii i na kaikamahine la, E noi mai oe ia'u i kau mea e makemake ai, a e haawi aku no wau ia oe.
22Chính con gái Hê-rô-đia vào, nhảy múa, đẹp lòng Hê-rốt và các ngươi dự tiệc nữa. Vua nói cùng người con gái ấy rằng: Hãy xin ta điều chi ngươi muốn, ta sẽ cho.
23Hoohiki aku la oia ia ia, O ka mea au e noi mai ai ia'u, na'u ia e haawi aku ia oe, a hiki i ka hapalua o ke aupuni o'u.
23Vua lại thề cùng nàng rằng: Bất k” ngươi xin điều chi, ta cũng sẽ cho, dầu xin phân nửa nước ta cũng vậy.
24Hele aku la ia iwaho, i aku la i kona makuwahine, Heaha la uanei ka'u mea o noi aku ai? Olelo mai la ia, O ke poo o Ioane Bapetite.
24Nàng ra khỏi đó, nói với mẹ rằng: Tôi nên xin điều chi? Mẹ rằng: Cái đầu của Giăng Báp-tít.
25A hele wikiwiki ae la ia i ke alii, nonoi ae la, i ae, Makemake au e haawi koke mai oe ia'u i ke poo o Ioane Bapetite, maluna o kekahi pa.
25Tức thì nàng vội trở vào nơi vua mà xin rằng: Tôi muốn vua lập tức cho tôi cái đầu Giăng Báp-tít để trên mâm.
26Minamina loa iho la ke alii, aka, no kona hoohiki e ana, a no ka poe o noho pu ana me ia, i manao ole ai ia e hoole aku ia ia.
26Vua lấy làm buồn rầu lắm; nhưng vì cớ lời thề mình và khách dự yến, thì không muốn từ chối nàng.
27Kana koke ae la ke alii i kekahi ilamuku, olelo ae la e laweia mai kona poo. Hele aku la ia, a oki ae la i kona poo iloko o ka halepaahao;
27Vua liền sai một người lính thị vệ truyền đem đầu Giăng đến.
28A lawe mai la ia i ke poo, iluna o ke pa, a haawi mai la i ua kaikamahine la, a haawi ae la hoi ke kaikamahine i kona makuwahine.
28Người ấy đi chém Giăng trong ngục; rồi để đầu trên mâm đem cho người con gái, và người con gái đem cho mẹ mình.
29Lohe iho la kana poe haumana, hele mai la lakou, a lawe aku la i ke kino, a waiho iho la iloko o ka halekupapau.
29Môn đồ Giăng nghe tin, đến lấy xác người chôn trong mả.
30Akoakoa iho la ka poe lunaolelo io Iesu la, hai aku la ia ia i na mea a pau, o na mea hoi a lakou i hana'i, a me na mea a lakou i ao aku ai.
30Các sứ đồ nhóm lại cùng Đức Chúa Jêsus, thuật cho Ngài mọi điều mình đã làm và dạy.
31I mai la oia ia lakou, E hele kaawale mai oukou, a i kahi mehameha, o oukou wale no, a e koomaha iki: no ka mea, na nui loa ka poe i hele mai, a i holo aku, no ia mea, aole o lakou wa kaawale, e ai ai i ka ai.
31Ngài phán cùng sứ đồ rằng: Hãy đi tẻ ra trong nơi vắng vẻ, nghỉ ngơi một chút. Vì có kẻ đi người lại đông lắm, đến nỗi Ngài và sứ đồ không có thì giờ mà ăn.
32Holo kaawale aku la lakou ma ka moku, a i kahi mehameha.
32Vậy, Ngài và sứ đồ xuống thuyền đặng đi tẻ ra trong nơi vắng vẻ.
33Ike ae la na kanaka i ko lakou holo ana, a he nui no hoi na mea i hoomaopopo ia ia, holo wawae aku la lakou mai na kulanakauhale aku, a hiki mua aku la lakou a akoakoa iho la io na la.
33Nhưng nhiều người thấy đi, thì nhìn biết; dân chúng từ khắp các thành đều chạy bộ đến nơi Chúa cùng sứ đồ vừa đi, và đã tới đó trước.
34A hele ae la Iesu iwaho, ike mai la ia i ka ahakanaka he nui loa, haehae iho la kona aloha ia lakou; no ka mea, ua like lakou me na hipa kahu ole, a hoomaka ia e ao mai ia lakou i na mea he nui.
34Bấy giờ Đức Chúa Jêsus ở thuyền bước ra, thấy đoàn dân đông lắm, thì Ngài động lòng thương xót đến, vì như chiên không có người chăn; Ngài bèn khởi sự dạy dỗ họ nhiều điều.
35I ke kokoke ana e po ka la, hele aku la kana poe haumana io na la, i aku la, He wahi waouahele keia, a kokoke e po ka la;
35Trời đã chiều, môn đồ tới gần Ngài mà thưa rằng: Chỗ nầy là vắng vẻ, và trời đã chiều rồi;
36E hookuu aku oe ia lakou, e hele lakou ma kuhi mahinaai, a ma na kulanakauhale, e kuai i berena na lakou; no ka mea, aole a lakou mea e paina ai.
36xin cho dân chúng về, để họ đi các nơi nhà quê và các làng gần đây đặng mua đồ ăn.
37Olelo mai la oia ia lakou, E haawi aku oukou i ai ua lakou. I aku la lakou ia ia, E hele anei makou e kuai lilo aku i elua haneri denari, i mea e loaa mai ai ka berena e haawi aku ia lakou e ai?
37Ngài đáp rằng: Chính các ngươi phải cho họ ăn. Môn đồ thưa rằng: chúng tôi sẽ đi mua đến hai trăm đơ-ni-ê bánh để cho họ ăn hay sao?
38Ninau mai la oia ia lakou, Ehia na popo berena a oukou? E hele e nana. A ike lakou, hai aku la, Elima a me na ia elua.
38Ngài hỏi rằng: Các ngươi có bao nhiêu bánh? Hãy đi xem thử. Môn đồ xem xét rồi, thưa rằng: Năm cái bánh và hai con cá.
39Kena mai la oia ia lakou, E hoonoho papa i kanaka a pau ilalo ma ka weuweu.
39Ngài bèn truyền cho môn đồ biểu chúng ngồi xuống hết thảy từng chòm trên cỏ xanh.
40Noho papa iho la lakou, ma na pahaneri, a ma na pakanalima.
40Chúng ngồi xuống từng hàng, hàng thì một trăm, hàng thì năm chục.
41Lalau ae la ia i na popo berena elima, a me na ia elua, alaila nana aku la ia iluna i ka lani, hoomaikai aku la, wawahi iho la i na popo berena, haawi mai la i kana mau haumana, e kau ae imua o na kanaka; a puunaue ae la ia i na ia elua na lakou a pau.
41Đức Chúa Jêsus lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, tạ ơn, rồi bẻ bánh ra mà trao cho môn đồ, đặng phát cho đoàn dân; lại cũng chia hai con cá cho họ nữa.
42Ai iho la lakou a pau, a maona.
42Ai nấy ăn no nê rồi;
43Hoiliili iho la lakou i ke koena ai, a me ko ka ia, a piha ae la na hinai he umikumamalua.
43người ta lượm được mười hai giỏ đầy những miếng bánh và cá còn thừa lại.
44O ka poe i ai i na popo berena, elima tausani kanaka lakou.
44Vả, số những kẻ đã ăn chừng năm ngàn người.
45A hoolale mai Iesu i kana mau haumana, e ee lakou iluna o ka moku, e holo mua i kela kapa, i Betesaida, a hookuu aku ia i ka ahakanaka.
45Rồi Ngài liền giục môn đồ vào thuyền, qua bờ bên kia trước mình, hướng đến thành Bết-sai-đa, trong khi Ngài cho dân chúng về.
46A pau kana hoihoi ana aku ia lakou, hele aku la ia i ka mauna e pule.
46Ngài lìa khỏi chúng rồi, thì lên núi mà cầu nguyện.
47A po ae la, iwaena o ka moanawai ua moku la, a mauka no kela, oia hookahi no.
47Đến tối, chiếc thuyền đang ở giữa biển, còn Ngài thì ở một mình trên đất.
48Ike ae oia ia lakou e hooikaika ana ma ka hoe, no ka mea, ua pakui mai ka makani mamua o lakou; a hiki ae la i ka ha o ka wati o ka po, hele mai la ia io lakou la, e hele ana maluna o ka moanawai, a manao iho la ia e maalo ae, ma o ae o lakou.
48Ngài thấy môn đồ chèo khó nhọc lắm, vì gió ngược. Lối canh tư đêm ấy, Ngài đi bộ trên biển mà đến cùng môn đồ; và muốn đi trước.
49Ike ae la lakou ia ia i ka hele ana maluna iho o ka moanawai, manao iho la lakou he uhane, a hooho nui aku la;
49Môn đồ thấy Ngài đi bộ trên mặt biển ngỡ là ma, nên la lên;
50No ka mea, ike ae la lakou a pau ia ia, weliweli iho la: olelo koke ae la oia ia lakou, i ae la, E hoolana oukou; owau no keia, mai makau.
50vì ai nấy đều thấy Ngài và sợ hoảng. nhưng Ngài liền nói chuyện với môn đồ và phán rằng: Hãy yên lòng, ta đây đừng sợ chi.
51Pii aku la ia iluna o ka moku io lakou la, malie iho ka makani; kahaha nui loa iho la ko lakou naau, mahalo ae la.
51Ngài bèn bước lên thuyền với môn đồ, thì gió lặng. Môn đồ càng lấy làm lạ hơn nữa;
52Aole lakou i hoomanao i na popo berena, no ka mea, ua paakiki ko lakou naau.
52vì chẳng hiểu phép lạ về mấy cái bánh, bởi lòng cứng cỏi.
53Holo pu aku la lakou a hiki aku i ka aina i Genesareta, a pae ae la.
53Khi Ngài và môn đồ đã qua khỏi biển, đến xứ Ghê-nê-xa-rết, thì ghé thuyền vào bờ.
54A i ko lakou haalele ana i ka moku, hoomaopopo koke iho la na kanaka ia ia.
54Vừa ở trong thuyền bước ra, có dân chúng nhận biết Ngài,
55Holo lakou ma ia aina a puni, a hoomaka e halihali ma na wahi moe i ka poe mai i na wahi a lakou i lohe ai, e noho ana o Iesu.
55chạy khắp cả miền đó, khiêng những người đau nằm trên giường, hễ nghe Ngài ở đâu thì đem đến đó.
56Ma na wahi a pau loa i komo aku ai ia i na kauhale, a i na kulanakauhale, a i kuaaina, malaila lakou i waiho ai i ka poe mai, ma na alanui, a nonoi aku la ia ia, i hoopa aku ai lakou i ke kihi wale no o kona aahu; a o ka poe i hoopa aku ia ia, ola ae la lakou.
56Ngài đến nơi nào, hoặc làng, thành, hay chốn nhà quê, người ta đem người đau để tại các chợ, và xin Ngài cho phép mình ít nữa được rờ đến trôn áo Ngài; những kẻ đã rờ đều được lành bịnh cả.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.