II. Na Lii 19
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1A LOHE ae la o Hezekia ke alii, haehae iho la ia i kona aahu, a hoouhi ia ia iho i ke kapa inoino, a komo aku la ia i ka hale o Iehova.
1Hay được tin ấy, vua Ê-xê-chia xé rách quần áo mình, mặc áo bao, và đi vào đền thờ của Đức Giê-hô-va.
2Hoouna aku la ia ia Eliakima ka luna o ko ka hale, a me Sebena, ke kakauolelo, a me ka poe kahiko o na kahuna i hoouhiia i na kapa inoino, io Isaia la ke kaula, ke keiki a Amoza.
2Đoạn, người sai Ê-li-a-kim, quan cai đền, Sép-na, thơ ký, và hững thầy tế lễ già hơn hết, mặc bao, đến Ê-sai, thầy tiên tri, con trai A-mốt.
3I aku la lakou ia ia, Ke olelo mai nei o Hezekia peneia, O keia la, he la pilikia, poino a me ka hoowahawana: no ka mea, ua hiki mai ka manawa e hanau ai na keiki, aohe ikaika e hanau mai ai.
3Chúng nói với người rằng: Ê-xê-chia nói như vầy: Ngày nay là một ngày tai nạn, sửa phạt, và ô danh; vì đàn bà đã đến k” mãn nguyệt, nhưng thiếu sức đẻ con.
4Malia paha e hoolohe mai o Iehova kou Akua i na olelo a pau a Rabesake, ka mea a ke alii o Asuria kona haku i hoouna mai ai e hoino i ke Akua ola; a e ahewa aku i na olelo a Iehova kou Akua i lohe ai; nolaila e pule aku oe no ka poe i koe i loaa.
4Có lẽ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ông đã nghe các lời của Ráp-sa-kê, mà vua A-si-ri, chủ hắn, đã sai đến đặng phỉ báng Đức Chúa Trời hằng sống, và Giê-hô-va Đức Chúa Trời ông sẽ quở phạt các lời Ngài đã nghe. Vậy, xin hãy cầu nguyện giùm cho những kẻ còn sống.
5A hiki aku na kauwa a Hezekia ke alii io Isaia la.
5Các tôi tớ vua Ê-xê-chia đi đến Ê-sai.
6I mai la o Isaia ia lakou, Penei oukou e olelo aku ai i ko oukou haku, Ke olelo mai nei o Iehova peneia, Mai makau oe i na olelo au i lohe ai, i ka mea a na kauwa a ke alii o Asuria i hoohiki ino mai ai ia'u.
6Người nói với chúng rằng: Các ngươi khá đáp với chủ mình thế này: Đức Giê-hô-va phán như vầy: Chớ sợ hãi những lời các ngươi đã nghe các tôi tớ của vua A-si-ri dùng mà phạm đến ta.
7Aia hoi, e hoouna au i makani io na la, a e lohe no ia i ka lono, a hoi aku i kona aina; a e hoohaule iho au ia ia i ka pahikaua ma kona aina iho.
7Ta sẽ khiến một thần đến cùng nó, làm cho nó nghe tiếng đồn, và nó sẽ trở về xứ mình; tại đó ta sẽ dùng gươm giết nó.
8A hoi aku o Rabesake, a loaa ia ia ke alii o Asuria e kana ana i ko Lebena, no ka mea, ua lohe ia, ua haalele oia i Lakisa.
8Khi Ráp-sa-kê trở về vua A-si-ri, thấy vua đang vây Líp-na, vì có hay rằng chủ mình đã lìa khỏi La-ki.
9A lohe ia no Tirehaka ke alii o Aitiopa, i ka i ana ae, Aia hoi, ua hele mai ia e kaua mai ia oe: a hoouna hou aku la ia i na elele io Hezekia la, i aku la,
9Vua bèn nghe nói về Tiệt-ha-ca, vua Ê-thi-ô-bi rằng: Kìa, người đã kéo ra đặng giao chiến với ông. Bởi cớ đó, San-chê-ríp lại sai sứ giả đến Ê-xê-chia, và dặn rằng:
10Penei oukou e olelo aku ai ia Hezekia ke alii o ka Iuda, e i aku, E malama o hoopunipuniia oe e kou Akua au i hilinai ai, i ka i ana'e, Aole e haawiia o Ierusalema iloko o ka lima o ke alii o ko Asuria.
10Các ngươi hãy nói như vầy với Ê-xê-chia, vua Giu-đa, mà rằng: Chớ để cho Đức Chúa Trời, là Đấng ngươi nhờ cậy, phỉnh gạt ngươi, mà nói rằng: Giê-ru-sa-lem sẽ chẳng bị sa vào tay vua A-si-ri.
11Aia hoi, ua lohe no oe i ka mea a na'lii o Asuria i hana aku ai i na aina a pau, ma ka luku loa ana ia lakou: a e hoopakeleia anei oe?
11Kìa, người đã hay những việc các vua A-si-ri đã làm cho các xứ mà diệt đi hết thảy: còn ngươi, sẽ thoát khỏi nào!
12Ua hoopakele anei na akua o na lahuikanaka ia lakou, i na mea a ko'u mau makua i luku ai: i Gozana, i Harama, i Rezepa, a me na kanaka o Edena, ka poe ma Telasara?
12Các thần của những dân tộc mà tổ phụ ta đã tuyệt diệt, há có giải cứu chúng chăng, là các thần của Gô-xa, Ha-ran, Rết-sép, và dân Ê-đen, ở tại Tê-la-sa?
13Auhea ke alii o Hamata, a me ke alii o Arepada, a me ke alii no na kulanakauhale o Separevaima, o Hena, a me Iva?
13Vua Ha-mát, vua Aït-bát, vua thành Sê-phạt-va-im, vua Hê-na, và vua Y-va, đều ở đâu?
14A lawe ae la o Hezekia i na palapala mai ka lima mai o na elele, a heluhelu iho la ia mau mea: a pii ae la o Hezekia i ka hale o Iehova, a hohola aku la ia mau mea imua o Iehova.
14Ê-xê-chia tiếp đặng thơ ở nơi tay các sứ giả, bèn đọc. Đoạn, người đi lên đền thờ của Đức Giê-hô-va, và mở thơ ra trước mặt Đức Giê-hô-va.
15Pule aku la o Hezekia imua o Iehova, i aku la, E Iehova ke Akua o ka Iseraela, ka mea e noho ana maluna o na keruba, o oe no ke Akua, o oe wale no, o na aupuni a pau o ka honua; o oe ka i hana i ka lani a me ka honua.
15Ê-xê-chia cầu nguyện Đức Giê-hô-va rằng: Oâi, Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên! Ngài vẫn ngự ở giữa các chê-ru-bin, chỉ một mình Ngài là Đức Chúa Trời của các nước thế gian. Chính Ngài đã làm nên trời và đất.
16E Iehova, e haliu mai kou pepeiao, a e lohe: e Iehova, e wehe ae i kou maka, a ike; a lohe i na olelo a Senakeriba, ana i hoouna mai ai e hoino aku i ke Akua ola.
16Hỡi Đức Giê-hô-va! hãy nghiêng tai Ngài và nghe. Hỡi Đức Giê-hô-va! hãy mở mắt Ngài ra và xem. Cầu Chúa hãy nghe các lời mà San-chê-ríp sai nói, đặng phỉ báng Đức Chúa Trời hằng sống.
17He oiaio no, e Iehova, ua luku aku na'lii o Asuria i na lahuikanaka a me ko lakou aina;
17Đức Giê-hô-va ôi! quả thật các vua A-si-ri đã diệt các dân tộc, và phá hoang địa phận chúng nó,
18A ua haawi aku i ko lakou mau akua i ke ahi; no ka mea, aole lakou he akua, aka, he hana a na lima kanaka, he laau, a he pohaku: nolaila, ua luku aku lakou ia lakou la.
18ném các thần chúng nó vào lửa; nhưng chẳng phải là thần, chẳng qua là công việc của tay người ta làm ra bằng gỗ và bằng đá; nên chúng hủy diệt các thần ấy.
19Ano hoi, E Iehova ko makou Akua, ke nonoi aku nei au ia oe, e hoopakele mai oe ia makou mailoko mai o kona lima, i ike ai na aupuni a pau o ka honua, o oe no o Iehova ke Akua, o oe wale no.
19Vậy bây giờ, hỡi Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng tôi ôi! hãy giải cứu chúng tôi khỏi tay San-chê-ríp, hầu cho muôn nước trên đất biết rằng chỉ một mình Giê-hô-va là Đức Chúa Trời.
20A hoouna aku la o Isaia ke keiki a Amoza io Hezekia la, i aku la, Ke olelo mai nei o Iehova ke Akua o ka Iseraela peneia, Ua lohe au i ka mea au i pule mai ai ia'u no Senakeriba ke alii o Asuria.
20Ê-sai, con trai A-mốt, sai nói với Ê-xê-chia rằng: Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán như vầy: Ta có nghe lời ngươi cầu nguyện cùng ta về việc San-chê-ríp, vua A-si-ri.
21Eia ka olelo a Iehova i olelo mai ai nona; O ka wahine puupaa, ke kaikamahine a Ziona, ua hoowahawaha mai ia ia oe, a ua akaaka mai ia oe: o ke kaikamahine a Ierusalema, ua hooluli mai ia i kona poo mahope ou.
21Này là lời Đức Giê-hô-va đã phán về hắn. Gái đồng trinh Si-ôn khinh dể, chê cười ngươi; con gái Giê-ru-sa-lem đã lắc đầu theo ngươi.
22Owai la kau i hoino ai, a i hoohiki ino ai? Maluna owai kau i hookiekie ai i ka leo, a hapai ai i kou maka iluna? maluna o ka Mea Hemolele o ka Iseraela.
22Ngươi phỉ báng và sỉ nhục ai? Cất tiếng lên cùng ai? Thật ngươi đã trừng con mắt nghịch với Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên!
23Ma kou poe elele ua hoino oe ia Iehova, a ua i mai, Me na halekaa o'u a nui, ua pii mai au i kahi kiekie o na mauna, i na aoao hoi o Lebanona, a e kua aku au i kona mau laau kedera loloa, a me kona mau laau paina maikai: a e komo aku au i ka halekipa o kona mokuna, i ka ululaau o kona kihapai ulu.
23Ngươi đã nhờ các sứ giả mình nhạo báng Chúa, mà rằng: Ta đem nhiều xe, lên chót núi, đến đỉnh rất xa của Li-ban; ta sẽ đốn những cay bá hương cao hơn hết, và cây tòng tốt nhất của nó; ta sẽ đến cõi xa hơn hết, tức rừng rậm của nó.
24Ua eli iho an, a ua inu i ka wai malihini, a me ka poho o kuu wawae, ua hoomaloo au i na muliwai o Aigupita.
24Ta đã đào giếng, uống nước của đất lạ; dưới bàn chân ta sẽ làm cạn sông Ê-díp-tô.
25Aole anei oe i lohe i ka manawa mamua, na'u no ia i hana, a i na wa kahiko, na'u no ia i hookumu? ano, ua hooko no au, i lilo ai oe i mea e luku ai i na kulanakauhale i hoopaaia, a lilo i mau puu opala.
25Sự này ta đã làm từ lâu, việc này ta đã định từ thời cổ, ngươi há chẳng nghe đến sao? Bây giờ, ta khiến cho sự đó xảy đến, để cho ngươi phá hoang các thành kiên cố ra đống hư nát.
26Nolaila ua nawaliwali ko lakou poe kanaka, a ua weliweli a pihoihoi, ua like lakou me ka launahele o ke kula, a me ka laau uliuli, me ka weuweu maluna o ka hale, a me ka palaoa eleele mamua o ka opuu ana.
26Vì vậy, dân sự của các thành ấy đều yếu đuối, bị sợ hãi và hổ thẹn; chúng giống như cây cỏ xanh ngoài đồng, tỉ như cây cỏ trên nóc nhà, khác nào lúa mì đã héo trước khi cọng chưa thành.
27Aka, ua ike au i kou noho ana, a me kou hele ana iwaho, a me kou komo ana iloko, a me kou inaina ana ia'u.
27Nơi ngươi ngồi, lúc ngươi đi ra, đi vào, và sự giận dại ngươi đối cùng ta, ta đã biết hết.
28No kou inaina ana mai ia'u, a no ka pii ana mai o kou haaheo iloko o ko'u pepeiao, nolaila, e hookomo au i ko'u lou i kou ihu, a me ko'u kaulawaha i kou lehelehe, a e hoihoi aku au ia oe ma ke ala au i hele mai nei.
28Bởi ngươi giận dại cùng ta, và vì lời kiêu ngạo ngươi đã thấu đến tai ta, ắt ta sẽ xỏ cái vòng nơi mũi ngươi, để khớp nơi môi miếng ngươi. Đoạn, ta sẽ khiến ngươi trở về theo con đường mà ngươi đã đi đến.
29O keia ka hoailona ia oe, e ai oukou i keia makahiki i ka ai uluwale, a ia makahiki aku i ka mea uluwale; a i ke kolu o ka makahiki e lulu oukou, a e hoiliili, a e kanu i na malawaina, a e ai i kona hua.
29Hỡi Ê-xê-chia, nhờ dấu hiệu này ngươi nhìn biết rằng lời này sẽ ứng nghiệm: Năm nay, các ngươi sẽ ăn vật hột giống rớt xuống, sanh ra; năm thứ nhì, ăn vật tự mọc lên; nhưng năm thứ ba, các ngươi sẽ gieo và gặt, trồng nho và ăn trái nó.
30A o ke koena i pakele o ka ohana o Iuda e kolo lea ke aa malalo, a e hua mai i ka hua maluna.
30Hễ giống gì thoát khỏi, còn lại của dân tộc Giu-đa, dưới sẽ châm rễ xuống, trên sẽ kết bông trái lên.
31No ka mea, e puka aku auanei ke koena mai Ierusalema aku, a me ka poe i pakele mai ka mauna o Ziona aku: o ka ikaika o Iehova e hana mai i keia.
31Vì sẽ có phần sót lại từ Giê-ru-sa-lem mà ra, kẻ thoát khỏi từ núi Si-ôn mà đến; lòng sốt sắng của Đức Giê-hô-va sẽ làm nên việc ấy.
32No ia mea, ke olelo mai nei o Iehova penei no ke alii o Asuria, Aole ia e komo maloko o keia kulanakauhale, aole hoi e pana aku i ka pua malaila, aole hoi o hele mai imua ona me ka palekaua, aole e hoahu i puu e ku pono ana ia ia.
32Bởi cớ đó, Đức Giê-hô-va phán về vua A-si-ri như vầy: Nó sẽ không vào thành này, chẳng xạ tên trong nó, cũng chẳng kéo đến giơ khiên lên trước mặt nó, và chẳng đắp lũy nghịch nó.
33Ma ke ala ana i hele mai ai, malaila oia e hoi aku ai, aole ia e komo iloko o keia kulanakauhale, wahi a Iehova.
33Đức Giê-hô-va phán: Nó sẽ trở về theo con đường nó đã đi đến, không vào trong thành này.
34No ka mea, e malama no wau i keia kulanakauhale, e hoola no ia ia no'u, a no Davida kau kauwa.
34Vì tại cớ ta và Đa-vít, kẻ tôi tớ ta, ta sẽ binh vực thành này đặng cứu nó.
35A ia po iho, hele aku la ka anela o Iehova, a luku aku la, ma kahi hoomoana o ko Asuria, i hookahi haneri a me kanawalukumamalima tausani: a ala ae la lakou i kakahiaka nui, aia hoi, he poe kupapau make lakou a pau.
35Trong đêm đó, có một thiên sứ của Đức Giê-hô-va đi đến trong dinh A-si-ri, và giết một trăm tám mươi lăm ngàn người tại đó. Sáng ngày mai, người ta thức dậy, bèn thấy quân ấy, kìa, chỉ là thây đó thôi.
36A haalele aku la o Senakeriba ke alii o Asuria, hele aku a hoi aku la, a noho iho la ma Nineve.
36San-chê-ríp, vua A-si-ri, bèn trở về, ở tại Ni-ni-ve.
37A i kona hoomana ana ma ka hale o Niseroka kona akua, o Aderameleka, a me Sarezera, kana mau keiki, pepehi aku la laua ia ia me ka pahikaua, a holo laua i ka aina o Ararata. A noho alii iho la o Esarehadona, kana keiki, ma kona hakahaka.
37Một ngày kia, người thờ lạy tại trong chùa Nít-róc, thần của mình, thì A-tra-mê-léc và Sa-rết-se giết người bằng gươm, đoạn chúng nó trốn trong xứ A-ra-rát. Ê-sạt-ha-đôn, con trai người, kế vị người.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.