Malakhi 2
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Vaihiah Aw qaimanawk, hae kaalok loe nangcae han ih ni.
1Hỡi các thầy tế lễ, bây giờ ta truyền lịnh nầy về các ngươi.
2Na tahngai o ai moe, ka hmin pakoehhaih palungthin na tawn o ai nahaeloe, nangcae nuiah sethaih ka phaksak moe, nangcae tahamhoihaih to kasae ah kang coengsak han: palung thungah na suem o ai pongah, ue, kasae kang tongh o sak boeh, tiah misatuh kaminawk ih Angraeng mah thuih.
2Nếu các ngươi chẳng nghe, và không để lòng dâng sự vinh hiển cho danh ta, thì, Đức Giê-hô-va vạn quân phán, ta sẽ giáng sự rủa sả trên các ngươi, và sẽ rủa sả những phước lành của các ngươi; và ta đã rủa sả rồi, vì các ngươi không để điều đó vào lòng.
3Khenah, na caanawk to ka thuitaek han; poihsakhaih moi ih aek to nangcae mikhmai ah ka haeh han; minawk mah nangcae to moi ih aek hoi nawnto na la o ving tih.
3Nầy, ta sẽ quở trách giống gieo của các ngươi, rải phân trên mặt các ngươi, tức là phân của những lễ các ngươi; các ngươi sẽ bị đem đi với phân ấy.
4Levi hoi ka sak ih lokmaihaih caksak poe hanah, hae kaalok hae nangcae khaeah kang patoeh, tito na panoek o tih, tiah misatuh kaminawk ih Angraeng mah thuih.
4Các ngươi sẽ biết rằng ta đã truyền lịnh nầy cho các ngươi, để đã làm giao ước của ta với Lê-vi, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.
5Anih hoi lokmaihaih ka sak baktih toengah, anih khaeah hinghaih hoi monghaih to oh; anih mah kai zit thai hanah, lokmaihaih anih khaeah ka paek, to naah anih mah kai to zit moe, ka hmin saiqathaih a paek.
5Giao ước của ta với Lê-vi vốn là sự sống và sự bình an mà ta đã ban cho nó, hầu cho nó kính sợ ta; thì nó đã kính sợ ta, và run rẩy trước danh ta.
6Anih loe loktang lok to thuih, anih ih pahni hoiah amsoem ai lok tidoeh thui ai; anih loe kai hoi nawnto kamongah oh moe, katoeng ah khosak, anih mah pop parai kaminawk to zaehaih thung hoiah angqoisak.
6Luật pháp của sự chơn thật đã ở trong miệng nó, trong môi miếng nó chẳng có một sự không công bình nào; nó đã bước đi với ta trong sự bình an và ngay thẳng, làm cho nhiều người xây bỏ khỏi sự gian ác.
7Qaima ih pahni mah loe palunghahaih lok to thuih han angaih, kaminawk loe anih ih pakha hoiah palunghahaih lok to pakrong o han oh: anih loe misatuh kaminawk ih Angraeng, anih ih tamthang sinkung ah oh.
7Vì môi miếng của thầy tế lễ nên giữ sự thông biết, người ta tìm luật pháp trong miệng nó, vì nó là sứ giả của Đức Giê-hô-va vạn quân.
8Toe nangcae loe loklam nam khraeng o ving moe, patukhaih kaalok pongah kami pop parai nam timh o sak boeh; Levi hoi sak ih lokmaihaih to na phraek o, tiah misatuh kaminawk ih angraeng mah thuih.
8Nhưng, trái lại, các ngươi đã xây khỏi đường lối, làm cho nhiều người vấp ngã trong luật pháp, và đã làm sai giao ước của Lê-vi, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.
9To pongah kai ih loklam to na pazui o ai moe, patuk ih lok baktih na ai ah, kami ih mikhmai na khet o pongah, kai mah doeh panuet thok ah kang ohsak moe, kami boih hma ah azat thok ah kang sak o han, tiah thuih.
9Vậy nên ta cũng đã làm cho các ngươi ra khinh bỉ hèn hạ trước mặt cả dân, vì các ngươi chẳng giữ đường lối ta, hay vị nể người ta trong luật pháp.
10Aicae loe ampa maeto khue na ai maw a tawnh o? Sithaw maeto mah na ai maw aicae hae sak? Tipongah aicae mah ampanawk ih lokmaihaih to amhnong o sak moe, nawkamya maeto hoi maeto aling o loe?
10Hết thảy chúng ta chẳng phải là có chung một cha sao? Chẳng phải chỉ có một Đức Chúa Trời đã dựng nên chúng ta sao? Vậy sao ai nấy đãi anh em mình cách gian dối, phạm giao ước của tổ phụ chúng ta?
11Judah kaminawk loe oep om o ai boeh moe, Israel kaminawk mah doeh panuet thok hmuen to sak o boeh; Angraeng mah palung ih hmuenciim to Judah mah amhnongsak boeh: acaeng kalah sithaw canu to anih mah zu ah lak boeh.
11Giu-đa đã ăn ở cách lừa phỉnh, và đã phạm một sự gớm ghiếc trong Y-sơ-ra-ên và trong Giê-ru-sa-lem; vì Giu-đa đã làm uế sự thánh khiết của Đức Giê-hô-va, là sự Ngài ưa, mà cưới con gái của thần ngoại.
12To tiah sak han patuk kami hoi amtuk kami loe, misatuh kaminawk ih Angraeng khaeah hmuenpaek han sin cadoeh, Angraeng mah anih to Jakob ih imthung hoi takhoe ving tih.
12Phàm ai làm sự đó, hoặc kẻ thức, hoặc kẻ trả lời, hoặc kẻ dân của lễ cho Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Giê-hô-va sẽ trừ họ khỏi các trại của Gia-cốp.
13To pacoengah na sak o let ih hmuen loe hae tiah oh; na paek o ih hmuen to Angraeng mah tiah doeh sah ai boeh moe, oephaih hoiah talawk pae ai boeh pongah, nangcae mah Angraeng ih hmaicam to na qah o haih moe, mikkhraetui hoiah na suih o sak.
13Các ngươi lại còn làm sự nầy: các ngươi lấy nước mắt, khóc lóc, than thở mà che lấp bàn thờ Đức Giê-hô-va, nên nỗi Ngài không nhìn đến của lễ nữa, và không vui lòng nhận lấy vật dân bởi tay các ngươi.
14Tipongah maw Sithaw palung anghoe ai? tiah lok na dueng o; tipongah tih nahaeloe saning na nawk nathuem ah na lak ih nongpata nuiah oep kaom ah kho na sah o ai, tito anih mah panoek pongah ni: nongpata loe nang hoi nawnto angkom kami, lokmaihaih hoi lak ih na zu ah oh. Angraeng loe nang hoi na zu salakah hnukung ah oh.
14Các ngươi lại nói rằng: Vì sao? Aáy là vì Đức Giê-hô-va làm chứng giữa ngươi và vợ ngươi lấy lúc tuổi trẻ, mà ngươi đãi nó cách phỉnh dối, dầu rằng nó là bạn ngươi và là vợ giao ước của ngươi.
15Anih mah nang hnik to maeto ah oh han ih na ai maw a sak? Toe na muithla loe anih khaeah oh. Tipongah maeto ah ohsak loe? Sithaw panoek kaminawk ih caa pungsak han ih ni to tiah a sak. To pongah na poekhaih palungthin to angsum ah, saning na nawk nathuem ah na lak ih zu to tapraek hmah.
15Vả, hơi sống của Đức Chúa Trời dầu có dư dật, chỉ làm nên một người mà thôi. Nhưng vì sao chỉ làm một người? Aáy là vì tìm một dòng dõi thánh. Vậy các ngươi khá cẩn thận trong tâm thần mình; chớ đãi cách phỉnh dối với vợ mình lấy lúc tuổi trẻ.
16Israel Angraeng mah, Zu pakhrah kami to ka hnukma; sethaih kahni baktiah khuk kami doeh ka hnukma, tiah misatuh kaminawk ih Angraeng mah thuih. To pongah na poekhaih palungthin to angsum ah, oep kaom ai ah khosah hmah.
16Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên có phán rằng ta ghét người nào bỏ vợ, và người nào lấy sự hung dữ che áo mình, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy. Vậy hãy giữ trong tâm thần các ngươi, chớ đãi cách phỉnh dối.
17Na thuih o ih lok mah Angraeng tha na zok o sak; toe kawbang maw anih to tha ka zok o sak? tiah na thuih o. Angraeng mikhnuk ah loe kahoih ai hmuen sah kaminawk doeh kahoih kami ah oh o, nihcae nuiah Angraeng palung anghoe, tiah na thuih o; to tih ai boeh loe katoeng Sithaw loe naa ah maw oh? tiah na thuih o.
17Các ngươi đã làm phiền Đức Giê-hô-va bởi những lời nói mình; các ngươi lại nói rằng: Chúng tôi có làm phiền Ngài ở đâu? Aáy là khi các ngươi nói: Ai làm điều dữ thì đẹp mắt Đức Giê-hô-va, và Ngài ưa thích những người như vậy; bằng chẳng vậy, thì nào Đức Chúa Trời của sự chánh trực ở đâu?
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.