Efisa
Chapter 5

Efisa

Asang Khongca Bible (Eas…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1To pongah Sithaw mah palung ih caa ah na oh o baktih toengah, Sithaw hnukbang kami ah om oh;
1Vậy anh em hãy trở nên kẻ bắt chước Đức Chúa Trời như con cái rất yêu dấu của Ngài;
2Kri mah aicae ang palung moe, Sithaw khaeah hmuihoih ah oh hanah, angmah hoi angmah aicae angbawnhaih ah angpaek boeh, to pongah nangcae doeh amlunghaih hoiah khosah oh.
2hãy bước đi trong sự yêu thương, cũng như Đấng Christ đã yêu thương anh em, và vì chúng ta phó chính mình Ngài cho Đức Chúa Trời làm của dâng và của tế lễ, như một thức hương có mùi thơm.
3Kaciim kami ah na oh o boeh pongah, zae sakhaih, ciimcai ai hmuen hoi kamthlai hmoek koehhaihnawk nangcae thungah oh han om ai boeh;
3Phàm những sự gian dâm, hoặc sự ô uế, hoặc sự tham lam, cũng chớ nên nói đến giữa anh em, theo như cách xứng đáng cho các thánh đồ.
4amhnonghaih, kamthu lok apaehhaih hoi tamhnui lok sakhaihnawk loe kamsoem hmuen na ai ni, to baktih hmuen sak pongah loe kawnhaih lok to thui o lat ah.
4Chớ nói lời tục tỉu, chớ giễu cợt, chớ giả ngộ tầm phào, là những điều không đáng, nhưng thà cảm tạ ơn Chúa thì hơn.
5Nongpa nongpata zaehaih sah kami, ciimcai ai kami, kamthlai hmoek koeh kami, krang bok kaminawk loe Kri hoi Sithaw mah siangpahrang ah uk ih prae to toep o thai mak ai, tito na panoek o.
5Vì anh em phải biết rõ rằng kẻ gian dâm, ô uế, tham lam, tức là kẻ thờ hình tượng, không một kẻ nào được dự phần kế nghiệp của nước Đấng Christ và Đức Chúa Trời.
6Mi kawbaktih mah doeh avang ai lok hoiah na ling o hmah nasoe: to baktih hmuen pongah ni lok tahngai ai kaminawk nuiah Sithaw palungphuihaih to phak.
6Đừng để cho ai lấy lời giả trá phỉnh dỗ anh em; vì ấy là nhân những điều đó mà cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời giáng trên các con bạn nghịch.
7To pongah nangcae loe nihcae hoi angkom o hmah.
7Vậy, chớ có thông đồng điều chi với họ hết.
8Nangcae loe canghnii ah vinghaih thungah na oh o, toe vaihi loe Angraeng pongah aanghaih ah na oh o boeh: to pongah aanghaih caanawk baktiah khosah oh:
8Vả, lúc trước anh em đang còn tối tăm, nhưng bây giờ đã nên người sáng láng trong Chúa. Hãy bước đi như các con sáng láng;
9(hoihhaih, toenghaih hoi loktangnawk boih loe Muithla ih thingthai ah ni oh;)
9vì trái của sự sáng láng ở tại mọi điều nhân từ, công bình và thành thật.
10Angraeng mah talawk thai koi hmuen to pakrong oh.
10Hãy xét điều chi vừa lòng Chúa,
11Athaih kaom ai kaving toksakhaih hoiah angkom o hmah, toe to baktih kaving toksakhaih to amtueng o sak ah.
11và chớ dự vào công việc vô ích của sự tối tăm, thà quở trách chúng nó thì hơn;
12Nihcae mah tamquta hoi sak o ih hmuennawk to lok hoi thuih han ih mataeng doeh azat thoh.
12vì dầu nói đến điều mà những người đó làm cách kín giấu, cũng đã là hổ thẹn rồi.
13Toe to tiah kamtueng hmuennawk loe kawbaktih hmuen maw, tito aanghaih mah ni amtuengsak: hmuennawk boih amtuengsakkung loe aanghaih hae ni.
13Nhưng hết thảy mọi sự đã bị quở trách đều được tỏ ra bởi sự sáng; phàm điều chi đã tỏ ra thì trở nên sự sáng vậy.
14Anih mah, Aw iip kami nang anglawt laih, duekhaih thung hoi angthawk ah, to tih nahaeloe Kri mah aanghaih to na paek tih, tiah thuih.
14Cho nên có chép rằng: Ngươi đang ngủ, hãy thức, hãy vùng dậy từ trong đám người chết, thì Đấng Christ sẽ chiếu sáng ngươi.
15To pongah acoehaih hoiah khosah oh, kamthu baktiah om ai ah, palungha baktiah om oh,
15Vậy, hãy giữ cho khéo về sự ăn ở của anh em, chớ xử mình như người dại dột, nhưng như người khôn ngoan.
16aninawk loe hoih ai boeh pongah, atue kahoih to paawt ah.
16Hãy lợi dụng thì giờ, vì những ngày là xấu.
17To pongah kamthu baktiah om o hmah, Angraeng koehhaih panoek kami ah om oh.
17Vậy chớ nên như kẻ dại dột, nhưng phải hiểu rõ ý muốn của Chúa là thế nào.
18Mu paqui o hmah, to tiah ohhaih mah sethaih to tacawtsak, to pongah Muithla hoi koi oh;
18Đừng say rượu, vì rượu xui cho luông tuồng; nhưng phải đầy dẫy Đức Thánh Linh.
19maeto hoi maeto Saam laa, pakoehhaih laa hoi Muithla laa to sah oh, palung thung hoi Angraeng khaeah laa to sah oh;
19Hãy lấy ca vịnh, thơ thánh, và bài hát thiêng liêng mà đối đáp cùng nhau, và hết lòng hát mừng ngợi khen Chúa.
20hmuen boih ah aicae Angraeng Jesu Kri ih ahmin hoiah Pa Sithaw khaeah anghoehaih lawkthui o toepsoep ah;
20Hãy thường thường nhân danh Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, vì mọi sự tạ ơn Đức Chúa Trời, là Cha chúng ta.
21Sithaw zithaih hoiah maeto hoi maeto tlim ah khosah oh.
21Hãy kính sợ Đấng Christ mà vâng phục nhau.
22Zunawk, Angraeng khaeah nang paek o baktih toengah, na savanawk khaeah angpaek oh.
22Hỡi kẻ làm vợ, phải vâng phục chồng mình như vâng phục Chúa,
23Kri loe kricaabu lu ah oh baktih toengah, sava loe zu ih lu ah oh: Anih loe takpum pahlongkung ah oh.
23vì chồng là đầu vợ, khác nào Đấng Christ là đầu Hội thánh, Hội thánh là thân thể Ngài, và Ngài là Cứu Chúa của Hội thánh.
24Kricaabu mah Kri khaeah angpaek baktih toengah, zunawk mah doeh hmuen boih ah angmacae sava khaeah angpaek o nasoe.
24Aáy vậy, như Hội thánh phục dưới Đấng Christ, thì đàn bà cũng phải phục dưới quyền chồng mình trong mọi sự.
25Kri mah kricaabu palung moe, hinghaih paek baktih toengah, savanawk, na zu to palung oh;
25Hỡi người làm chồng, hãy yêu vợ mình, như Đấng Christ đã yêu Hội thánh, phó chính mình vì Hội thánh,
26Anih mah kricaabu to tui hoiah pasae ueloe, lok hoiah ciimsak tih,
26để khiến Hội nên thánh sau khi lấy nước rửa và dùng Đạo làm cho Hội tinh sạch,
27coek koi kaom ai, nganhin angcu ai, to tiah coek han koi tidoeh kaom ai, lensawk kricaabu maeto ah angmah khaeah paek thai hanah, coek koi kaom ai, ciimcai kricabu ah oh han angaih.
27đặng tỏ ra hội thánh đầy vinh hiển, không vết, không nhăn, không chi giống như vậy, nhưng thánh sạch không chỗ trách được ở trước mặt Ngài.
28To pongah nongpanawk mah a zunawk to angmacae ih takpum baktih toengah palung han oh. Azu palung kami loe angmah hoi angmah amlung kami ah oh.
28Cũng một thể ấy, chồng phải yêu vợ như chính thân mình. Ai yêu vợ mình thì yêu chính mình vậy.
29Mi kawbaktih mah doeh angmah ih takpum to hnuma vai ai; Angraeng mah kricaabu khetzawn baktih toengah ni, a takpum to pacah moe, a khetzawn.
29Vì chẳng hề có người nào ghét chính thân mình, nhưng nuôi nấng săn sóc nó như Đấng Christ đối với Hội thánh,
30Aicae loe angmah ih takpum, angan, ahuh thungah kathum kami ah ni a oh o.
30vì chúng ta là các chi thể của thân Ngài.
31Hae pongah nongpa mah amno hoi ampa to caehtaak ueloe, a zu hoi nawnto om tih, to naah nihnik loe takpum maeto ah ni om hoi tih boeh.
31Vậy nên người đàn ông phải lìa cha mẹ mà dính díu với vợ mình, hai người cùng nên một thịt.
32Hae loe kalen loktamqu ah oh: toe kai loe, Kri hoi kricaabu kawng ni ka thuih.
32Sự mầu nhiệm ấy là lớn, tôi nói về Đấng Christ và Hội thánh vậy.
33Toe nangmacae takpum na palung o baktih toengah, na zunawk to palung o toeng ah; zu mah doeh sava to khingya han oh.
33Thế thì mỗi người trong anh em phải yêu vợ mình như mình, còn vợ thì phải kính chồng.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.