Dân 16
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Daničić–Karadžić Bible (1868), Cyrillic
1Vả, Cô-rê, con trai của Dít-sê-ha, cháu của Kê-hát, chít của Lê-vi, giục theo mình Đa-than và A-bi-ram, con trai của Ê-li-áp, cùng với Oân, con trai của Phê-lết, cháu Ru-bên.
1А Кореј, син Исара сина Ката сина Левијевог, и Датан и Авирон синови Елијавови, и Авнан син Фалета сина Рувимовог побунише се,
2Các người nầy với hai trăm năm mươi người trong dân Y-sơ-ra-ên, vốn là quan tướng của hội, nghị viên của hội đồng, có danh giá, đều hiệp nhau dấy nghịch cùng Môi-se và A-rôn,
2и усташе на Мојсија, и с њима двеста и педесет људи између синова Израиљевих, главара народних, који се сазиваху на збор и беху људи знатни.
3mà rằng: Thôi đủ rồi! vì cả hội chúng đều là thánh, và Đức Giê-hô-va ngự ở trong; vậy sao các ngươi tự cao trên hội chúng của Đức Giê-hô-va?
3И скупише се на Мојсија и на Арона и рекоше им: Доста нек вам је; сав овај народ, сви су свети, и међу њима је Господ; зашто се ви подижете над збором Господњим?
4Môi-se nghe điều đó, bèn sấp mặt xuống đất,
4Кад то чу Мојсије, паде ничице.
5nói cùng Cô-rê và hết thảy kẻ hiệp với người mà rằng: Sáng mai, Đức Giê-hô-va sẽ tỏ cho biết ai thuộc về Ngài và ai là thánh; Ngài sẽ khiến người đó lại gần Ngài, tức khiến người nào mà Ngài đã chọn lấy đến gần Ngài.
5Потом рече Кореју и свој дружини његовој говорећи: Сутра ће показати Господ ко је Његов, и ко је свет, и кога је пустио к себи, јер кога је изабрао оног ће пустити к себи.
6Hỡi Cô-rê, hãy làm điều nầy: Ngươi và hết thảy kẻ hiệp với ngươi hãy cầm lư hương;
6Ово учините: Узмите кадионице, Кореј са свом дружином својом.
7sáng mai hãy để lửa ở trong và bỏ hương ở trên trước mặt Đức Giê-hô-va. Người nào mà Đức Giê-hô-va sẽ chọn, ấy là người thánh. Hỡi con cháu Lê-vi, thôi đủ rồi!
7И метните сутра у њих огња и метните у њих када пред Господом, и кога избере Господ онај ће бити свет. Доста нек вам је, синови Левијеви!
8Môi-se nói cùng Cô-rê rằng: Hỡi con cháu Lê-vi, bây giờ hãy nghe.
8И рече Мојсије Кореју: Чујте синови Левијеви!
9Về phần các ngươi, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã biệt các ngươi riêng ra với hội chúng Y-sơ-ra-ên, và khiến các ngươi đến gần Ngài đặng làm công việc trong đền tạm của Đức Giê-hô-va, đặng chực hầu việc trước mặt hội chúng, việc ấy há là nhỏ mọn sao?
9Мало ли вам је што вас је Бог Израиљев одвојио од збора Израиљевог пустивши вас к себи да вршите службу у шатору Господњем и да стојите пред збором и служите за њ?
10Ngài biểu ngươi, hết thảy anh em ngươi với con cháu Lê-vi đến gần Ngài, các ngươi lại còn kiếm chức tế lễ nữa sao?
10Пустио је к себи тебе и сву браћу твоју, синове Левијеве, с тобом, а ви тражите још и свештенство?
11Vì vậy, ngươi và toàn bè đảng của ngươi đều hiệp lại nghịch cùng Đức Giê-hô-va! Vì A-rôn là ai mà các ngươi lằm bằm cùng người?
11Зато ти и сва дружина твоја скупите се на Господа. Јер Арон шта је да вичете на њ?
12Môi-se sai đòi Đa-than và A-bi-ram, con trai Ê-li-áp; nhưng hai người đáp rằng: Chúng tôi không đi lên đâu.
12И посла Мојсије да дозову Датана и Авирона, синове Елијавове. А они одговорише: Нећемо да идемо.
13Há là điều nhỏ mọn mà ngươi đã đem chúng ta ra khỏi xứ đượm sữa và mật, đặng làm cho chúng ta chết trong đồng vắng, mà ngươi lại còn muốn lấn lướt trên chúng ta nữa sao?
13Мало ли је што си нас извео из земље у којој тече млеко и мед да нас побијеш у овој пустињи, него још хоћеш да владаш над нама?
14Quả thật, ngươi không có dẫn chúng ta đến trong một xứ đượm sữa và mật đâu, ngươi không cho chúng ta đồng ruộng hay là vườn nho làm sản nghiệp đâu! Ngươi toan khoét mắt của dân nầy ư? Chúng ta không đi lên đâu.
14Јеси ли нас одвео у земљу где тече млеко и мед? И јеси ли нам дао да имамо њиве и винограде? Хоћеш ли очи овим људима да ископаш? Нећемо да идемо.
15Môi-se nổi giận lắm, thưa cùng Đức Giê-hô-va rằng: Xin đừng kể đến của lễ chay chúng nó nữa; tôi không có bắt nơi chúng nó một con lừa nào, và tôi cũng không có làm hại một ai trong bọn chúng nó.
15Тада се расрди Мојсије врло, и рече Господу: Немој погледати на дар њихов; ниједног магарца нисам узео од њих, нити сам коме од њих учинио какво зло.
16Đoạn, Môi-se nói cùng Cô-rê rằng: Ngày mai ngươi và toàn bè đảng ngươi với A-rôn hãy ra mắt Đức Giê-hô-va.
16Потом рече Мојсије Кореју: Ти и сви твоји станите сутра пред Господом, ти и они и Арон.
17Mỗi người hãy lấy lư hương mình bỏ hương ở trong, rồi mỗi người dâng lư hương mình trước mặt Đức Giê-hô-va, tức là hai trăm năm mươi cái lư hương. Ngươi và A-rôn, mỗi người cũng phải có lư hương mình.
17И узмите сваки своју кадионицу, и метните у њих када, и станите пред Господом сваки са својом кадионицом, двеста и педесет кадионица, и ти и Арон, сваки са својом кадионицом.
18Vậy, mỗi người lấy lư hương mình để lửa vào, bỏ hương trên, rồi đứng tại cửa hội mạc luôn với Môi-se và A-rôn.
18И узеше сваки своју кадионицу, и метнувши у њих огња метнуше у њих када, и стадоше на врата шатора од састанка с Мојсијем и Ароном.
19Cô-rê hiệp cả hội chúng nghịch lại Môi-se và A-rôn tại cửa hội mạc; sự vinh quang của Đức Giê-hô-va hiện ra cùng cả hội chúng.
19А Кореј сабра на њих сав збор на врата шатора од састанка; тада се показа слава Господња свему збору.
20Đoạn, Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se và A-rôn rằng:
20И рече Господ Мојсију и Арону говорећи:
21Hãy tách khỏi giữa hội chúng nầy, thì ta sẽ tiêu diệt nó trong một lát.
21Одвојте се из тог збора, да их одмах сатрем.
22Hai người bèn sấp mặt xuống mà rằng: Oâi Đức Chúa Trời, là Chúa của thần linh mọi xác thịt! chỉ có một người phạm tội mà Chúa lại nổi giận cùng cả hội chúng sao?
22А они падоше ничице и рекоше: Боже, Боже духовима и сваком телу! Овај један згрешио, и на сав ли ћеш се збор гневити?
23Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:
23Опет рече Господ Мојсију говорећи:
24Hãy nói cùng hội chúng mà rằng: Hãy dan ra khỏi chung quanh chỗ ở của Cô-rê, Đa-than, và A-bi-ram.
24Реци збору и кажи: Одступите од шатора Корејевог и Датановог и Авироновог.
25Môi-se đứng dậy, đi lại phía Đa-than và A-bi-ram; các trưởng lão Y-sơ-ra-ên đi theo người.
25И уставши Мојсије отиде к Датану и Авирону, а за њим отидоше старешине Израиљеве.
26Người nói cùng hội chúng rằng: Bây giờ, hãy dan ra khỏi trại của các người hung ác nầy, và chớ đụng đến vật chi thuộc về họ, e các ngươi sẽ chết vì những tội của họ chăng.
26И рече збору говорећи: Одступите од шатора тих безбожника, и не додевајте се ничег што је њихово, да не изгинете са свих греха њихових.
27Vậy, dân sự dan ra khỏi tứ phía chỗ ở của Cô-rê, Đa-than, và A-bi-ram. Đa-than và A-bi-ram ra đứng tại cửa trại với vợ, con trai và con nít mình.
27И одступише са свих страна од шатора Корејевог и Датановог И Авироновог; а Датан и Авирон изашавши стадоше сваки на врата од шатора свог са женама својим и са синовима својим и с децом својом.
28Môi-se bèn nói rằng: Nhờ điều nầy các ngươi sẽ biết rằng Đức Giê-hô-va có sai ta đặng làm các điều nầy, và ta chẳng làm sự chi tự ta.
28Тада рече Мојсије: Овако ћете познати да ме је Господ послао да чиним сва ова дела, и да ништа не чиним од себе:
29Nếu các kẻ đó chết như mọi người khác chết, nếu họ đồng chịu số phận chung như mọi người, thì Đức Giê-hô-va không có sai ta.
29Ако ови помру као што мру сви људи, и ако буду покарани као што бивају покарани сви људи, није ме послао Господ;
30Nhưng nếu Đức Giê-hô-va làm một sự thật mới, nếu đất hả miệng ra nuốt họ và mọi món chi thuộc về họ, nếu họ còn đang sống mà xuống âm phủ, thì các ngươi sẽ biết rằng những người nầy có khinh bỉ Đức Giê-hô-va.
30ако ли шта ново учини Господ, и земља отвори уста своја и прождре их са свим што је њихово, и сиђу живи у гроб, тада знајте да су ови људи увредили Господа.
31Vừa khi Môi-se nói dứt các lời nầy, đất ngay dưới chân họ bèn nứt ra;
31А кад изговори речи ове, раседе се земља под њима,
32hả miệng nuốt họ, gia quyến và hết thảy phe Cô-rê cùng tài sản của chúng nó.
32и отворивши земља уста своја прождре их, и домове њихове и све људе Корејеве и све благо њихово.
33Các người đó còn đang sống và mọi vật chi thuộc về họ đều xuống âm phủ; đất lấp lại và chúng nó bị diệt khỏi hội chúng.
33И тако сиђоше са свим што имаху живи у гроб, и покри их земља и неста их из збора.
34Cả Y-sơ-ra-ên ở xung quanh nghe tiếng họ la, đều chạy trốn, vì nói rằng: Chúng ta hãy coi chừng, kẻo đất nuốt chúng ta chăng!
34А сви Израиљци који беху око њих побегоше од вике њихове, јер говораху: Да нас не прождре земља.
35Rồi một ngọn lửa từ Đức Giê-hô-va lòe ra thiêu hóa hai trăm năm mươi người đã dâng hương.
35И изађе огањ од Господа, и сажеже оних двеста и педесет људи који принесоше кад.
36Đoạn, Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:
36Тада рече Господ Мојсију говорећи:
37Hãy nói với Ê-lê-a-sa, con trai thầy tế lễ A-rôn, biểu lượm các lư hương ra khỏi chỗ lửa cháy, và đổ lửa của các lư hương nơi xa, vì lư hương đã nên thánh.
37Кажи Елеазару, сину Арона свештеника нека покупи кадионице из тог гаришта, и угљевље из њих нека разбаци, јер су свете;
38Còn những lư hương của các người đã phạm tội cùng sanh mạng mình, người ta phải lấy làm thành những tấm dát mỏng để bọc bàn thờ. Bởi các lư hương đã dâng trước mặt Đức Giê-hô-va đã thành thánh; những tấm dát đó sẽ dùng làm một dấu cho dân Y-sơ-ra-ên.
38кадионице оних који огрешише душе своје нека раскују на плоче да се окује олтар, јер кадише њима пред Господом, зато су свете, и нека буду синовима Израиљевим знак.
39Vậy, Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, lấy những lư hương bằng đồng của các người bị thiêu đã dâng lên, và người ta làm thành những tấm dát mỏng để bọc bàn thờ.
39И покупи Елеазар свештеник кадионице бронзане, којима беху кадили они што изгореше, и расковаше их на оков олтару
40Aáy là một kỷ niệm cho dân Y-sơ-ra-ên, để người nào ngoại dòng A-rôn chớ đến gần đặng xông hương trước mặt Đức Giê-hô-va, kẻo e đồng số phận cùng Cô-rê và bè đảng người, theo lời Đức Giê-hô-va đã cậy Môi-se truyền dạy.
40за спомен синовима Израиљевим, да не приступа нико други који није рода Ароновог да кади пред Господом, да му не буде као Кореју и дружини његовој, као што му беше казао Господ преко Мојсија.
41Ngày mai, cả hội dân Y-sơ-ra-ên lằm bằm cùng Môi-se và A-rôn mà rằng: Hai người đã làm chết dân của Đức Giê-hô-va.
41А сутрадан викаше сав збор синова Израиљевих на Мојсија и на Арона говорећи: Побисте народ Господњи.
42Khi hội chúng đang hiệp nhau nghịch cùng Môi-se và A-rôn, thì ngó về hướng hội mạc, xảy thấy trụ mây bao phủ hội mạc, và sự vinh quang của Đức Giê-hô-va hiện ra.
42А кад се стецаше народ на Мојсија и на Арона, погледаше на шатор од састанка, а то облак на њему, и показа се слава Господња.
43Môi-se và A-rôn đến đứng trước hội mạc,
43И дође Мојсије и Арон пред шатор од састанка.
44Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:
44И рече Господ Мојсију говорећи:
45Hãy dan ra khỏi giữa hội chúng nầy, thì ta sẽ tiêu diệt nó trong một lát. Nhưng hai người sấp mặt xuống đất,
45Уклоните се из тог збора да их одмах потрем. А они падоше ничице.
46rồi Môi-se nói cùng A-rôn rằng: Hãy cầm lấy lư hương để lửa từ trên bàn thờ vào, bỏ hương lên trên, mau mau đi đến hội chúng và làm lễ chuộc tội cho họ; vì sự thạnh nộ của Đức Giê-hô-va đã nổi lên, và tai vạ đã phát khởi.
46И рече Мојсије Арону: Узми кадионицу, и метни у њу огња с олтара, и метни када, и иди брже ка збору, и очисти их; јер гнев жесток изађе од Господа, и помор поче.
47A-rôn bèn cầm lấy lư hương y như Môi-se đã biểu, chạy đến giữa hội chúng; kìa, tai vạ đã phát khởi giữa dân sự. A-rôn bèn bỏ hương vào, và làm lễ chuộc tội cho dân sự.
47И узевши Арон кадионицу, као што му рече Мојсије, отрча усред збора, и гле, помор већ беше почео у народу; и окадив очисти народ.
48Người đứng giữa kẻ chết và kẻ sống, thì tai vạ bèn ngừng lại.
48И стајаше међу мртвима и живима, и устави се помор.
49Có mười bốn ngàn bảy trăm người chết vì tai vạ nầy, trừ ra những kẻ đã bị chết vì cớ Cô-rê.
49А оних који помреше од тог помора беше четрнаест хиљада и седам стотина, осим оних што изгибоше с Кореја.
50Đoạn, A-rôn trở về cùng Môi-se tại cửa hội mạc, rồi tai vạ ngừng lại.
50И врати се Арон к Мојсију на врата шатора од састанка, кад се устави помор.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.