Nê 7
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibal Olcim (Matupi Chin)
1Khi vách thành đã xây xong, và tôi đã tra các cánh cửa, lập những người giữ cửa, kẻ ca hát, và người Lê-vi trong chức việc của họ,
1Vongtung te a sak phoeiah tah thohkhaih te ka buen tih thoh tawt neh laa sa khaw, Levi khaw ka khueh.
2thì tôi giao phó việc cai trị Giê-ru-sa-lem cho Ha-na-ni, em tôi, và cho Ha-na-nia, quan tể cung; vì là một người trung tín và kính sợ Đức Chúa Trời hơn nhiều kẻ khác.
2Te vaengah ka mana Hanani neh Hananiah te Jerusalem rhalmah im ah mangpa la ka uen. Anih tah oltak kah hlang la om tih Pathen te muep a rhih ngai.
3Tôi dặn chúng rằng: Chớ mở các cửa Giê-ru-sa-lem trước khi mặt trời nắng nóng; người ta phải đóng cánh cửa, và gài then lại trong lúc kẻ giữ cửa còn ở tại đó; lại phải đặt người trong dân Giê-ru-sa-lem theo phiên mà canh giữ, mỗi người đứng canh nơi đối ngang nhà mình.
3Te phoeiah amih te ka uen tih, “Khohmik a saeham hil Jerusalem vongka te ah uh boel saeh. Amamih a rhaih pai vaengah thohkhaih te khai uh saeh lamtah kalh uh saeh. Jerusalem kah khosa rhoek tah amah rhaltawt ah pakhat neh a im hmai ah pakhat te rhaltawt la pai bal saeh,” ka ti nah.
4Vả, thành thì rộng rãi lớn lao, còn dân sự ở trong nó lại ít, và nhà mới thì chưa có cất.
4Khopuei te hmatoeng lamtah sang tih len dae a khui kah pilnam tah a yol dongah im sa om pawh.
5Đức Chúa Trời tôi có cảm động lòng tôi chiêu tập những người tước vị, các quan trưởng, và dân sự, đặng đem chúng vào sổ từng gia phổ. Tôi có tìm đặng một cuốn bộ gia phổ của những người đã trở lên lần đầu, và trong đó tôi thấy có ghi rằng:
5Ka pathen loh ka lungbuei ah a khueh dongah hlangcoelh rhoek khaw, ukkung rhoek khaw, pilnam khaw a khuui bangla ka coi. Te vaengah lamhma la aka mael rhoek kah rhuirhong cabu te ka hmuh tih a khuiah a daek tangtae la ka hmuh.
6Này là các người tỉnh Giu-đa từ nơi làm phu tù được trở lên, tức những kẻ thuộc trong bọn bị Nê-bu-ca-nết-sa bắt dẫn tù; chúng trở lại Giê-ru-sa-lem và xứ Giu-đa, ai nấy đều về bổn thành mình;
6He tah vangsawn tamna lamkah aka mael rhoek paeng ca rhoek ni. Amih te Babylon manghai Nebukhanezar loh a poelyoe dae Jerusalem la, Judah la, amah kho la rhip mael uh.
7chúng trở về với Xô-rô-ba-bên, Giê-sua, Nê-hê-mi, A-xa-ria, Ra-a-mia, Na-ha-ma-ni, Mạc-đô-chê, Binh-san, Mích-bê-rết, Biết-vai, Bê-hum, và Ba-a-na. Nầy là số tu bộ những người nam của dân Y-sơ-ra-ên;
7Zerubbabel, Jeshua, Nehemiah, Azariah, Raamiah, Nahamani, Mordekai, Bilshan, Mispereth, Bigvai, Nehum, Baanah neh aka pawk Israel pilnam kah hlang hlangmi.
8Về con cháu Pha-rốt, hai ngàn một trăm bảy mươi hai người;
8Parosh koca te thawng hnih ya sawmrhih panit.
9về con cháu Sê-pha-tia, ba trăm bảy mươi hai người.
9Shephatiah koca rhoek ya thum sawmrhih panit.
10Về con cháu A-ra, sáu trăm năm mươi hai người.
10Arah koca rhoek te ya rhuk sawmnga panit.
11Về co cháu Pha-hát-Mô-áp, con cháu của Giê-sua và Giô-áp, có hai ngàn tám trăm mười tám người.
11Pahathmoab koca ah, Jeshua neh Joab koca lamkah te thawng hnih ya rhet hlai rhet.
12Về co cháu Ê-lam, một ngàn hai trăm năm mươi bốn người.
12Elam koca rhoek te thawngkhat ya hnih sawmnga pali.
13Về con cháu Xát-tu, tám trăm bốn mươi lăm người.
13Zattu koca rhoek te ya rhet sawmli panga.
14Về con cháu Xác-cai, bảy trăm sáu mươi người.
14Zakkai koca rhoek ya rhih sawmrhuk.
15Về con cháu Bin-nui, sáu trăm bốn mươi tám người.
15Binnui koca rhoek te ya rhuk sawmli parhet.
16Về con cháu Bê-bai, sáu trăm hai mươi tám người.
16Bebai koca rhoek te ya rhuk pakul parhet.
17Về con cháu A-gát, hai ngàn ba trăm hai mươi hai người.
17Azgad koca rhoek te thawng hnih ya thum pakul panit.
18Về con cháu A-đô-ni-cam, sáu trăm sáu mươi bảy người.
18Adonikam koca rhoek te ya rhuk sawmrhuk parhih.
19Về con cháu Biết-vai, hai ngàn sáu mươi bảy người.
19Bigvai koca rhoek thawng hnih sawmrhuk parhih.
20Về con cháu A-đin, sáu trăm năm mươi lăm người.
20Adin koca rhoek te ya rhuk sawmnga panga.
21Con cháu A-te, về dòng dõi Ê-xê-chia, có chín mươi tám người.
21Ater koca Hezekiah lamkah te sawmko parhet.
22Về con cháu Ha-sum, ba trăm hai mươi tám người.
22Hashum koca rhoek te ya thum pakul parhet.
23Về con cháu Bết-sai, ba trăm hai mươi bốn người.
23Bezai koca rhoek te ya thum pakul pali.
24Về con cháu Ha-ríp, một trăm mười hai người.
24Hariph koca rhoek te ya hlai nit.
25Về con cháu Ga-ba-ôn, chín mươi lăm người.
25Gibeon koca rhoek te sawmko panga.
26Về những người Bết-lê-hem và Nê-tô-pha, một trăm tám mươi tám người.
26Bethlehem neh Netophah hlang rhoek ya sawmrhet parhet.
27Về những người A-na-tốt, một trăm hai mươi tám người.
27Anathoth hlang rhoek te ya pakul parhet.
28Về những người Bết-A-ma-vết, bốn mươi hai người.
28Bethazmaveth hlang rhoek te sawmli panit.
29Về những người Ki-ri-át-Giê-a-rim, người Kê-phi-ra, và người Bê-ê-rốt, bảy trăm bốn mươi ba người.
29Kiriathjearim, Kephirah neh Beeroth hlang rhoek te ya rhih sawmli pathum.
30Về những người Ra-ma và Ghê-ba, sáu trăm hai mươi mốt người.
30Ramah neh Geba hlang rhoek te ya rhuk pakul pakhat.
31Về những người Mích-ma, một trăm hai mươi hai người,
31Mikmash hlang rhoek te ya pakul panit.
32Về những người Bê-tên và A-hi, một trăm hai mươi ba người.
32Bethel neh Ai hlang rhoek te ya pakul pathum.
33Về những người Nê-bô khác, năm mươi hai người.
33A tloe Nebo hlang rhoek te sawmnga panit.
34Về con cháu Ê-lam khác, một ngàn hai trăm năm mươi bốn người.
34A tloe Elam hlang rhoek te thawngkhat ya hnih sawmnga pali.
35Về con cháu Ha-rim, ba trăm hai mươi người.
35Harim koca rhoek te ya thum pakul.
36Về con cháu Giê-ri-cô, ba trăm bốn mươi lăm người.
36Jerikho koca rhoek te ya thum sawmli panga.
37Về con cháu của Lô-đơ, của Ha-đít, và của Ô-nô, bảy trăm hai mươi mốt người.
37Lod, Hadid neh Ono koca rhoek te ya rhih neh pakul pakhat.
38Về con cháu Sê-na, ba ngàn chín trăm ba mươi người.
38Senaah koca rhoek te thawng thum ya ko sawmthum.
39Những thầy tế lễ: Về con cháu Giê-đa-gia, nhà Giê-sua, chín trăm bảy mươi ba người.
39Jedaiah koca, Jeshua imkhui lamkah khosoih rhoek te ya ko sawmrhih pathum.
40Về con cháu Y-mê, một ngàn năm mươi hai người.
40Immer koca rhoek te thawng khat sawmnga panit.
41Về con cháu Pha-ru-sơ, một ngàn hai trăm bốn mươi bảy người.
41Pashur koca rhoek te thawng khat ya hnih sawmli parhih.
42Về con cháu Ha-rim, một ngàn mười bảy người.
42Harim koca rhoek te thawng khat hlai rhih.
43Người Lê-vi: Con cháu của Giê-sua và của Cát-mi-ên, về dòng dõi Hô-đê-va, bảy mươi bốn người.
43Jeshua koca Levi rhoek te Kadmiel lamkah, Hodaviah koca lamkah te sawmrhih pali.
44Người ca hát: Về con cháu A-sáp, một trăm bốn mươi tám người.
44Asaph koca laa sa rhoek te ya sawmli neh parhet.
45Kẻ giữ cửa: Về con cháu Sa-lum, con cháu A-te, con cháu Tanh-môn, con cháu A-cúp, con cháu Ha-ti-la, và con cháu Sô-bai, một trăm ba mươi tám người.
45Thoh tawt, Shallum koca, Ater koca, Talmon koca, Akkub koca, Hatita koca, Shobai koca rhoek te ya sawmthum parhet.
46Người Nê-thi-nim: Con cháu Xi-ha, con cháu Ha-su-pha, con cháu Ta-ba-ốt,
46Tamtaeng rhoek te Ziha koca rhoek, Hasupha koca, Tabbaoth koca.
47con cháu Kê-rốt, con cháu Sia, con cháu Pha-đôn,
47Keros koca, Siaha koca, Padon koca.
48con cháu Lê-ba-na, con cháu Ha-ga-ba, con cháu Sanh-mai,
48Lebana koca, Hagaba koca, Shalmai koca.
49con cháu Ha-nan, con cháu Ghi-đên, con cháu Ga-ha;
49Hanan koca, Giddel koca, Gahar koca.
50con cháu Rê-a-gia, con cháu Rê-xin, con cháu Nê-cô-đa,
50Reaiah koca, Rezin koca, Nekoda koca.
51con cháu Ga-xam, con cháu U-xa, con cháu Pha-sê-a,
51Gazzam koca, Uzzah koca, Paseah koca.
52con cháu Bê-sai, con cháu Mê-u-nim, con cháu Nê-phi-sê-sim,
52Besai koca, Mehunim koca, Nephussim kah Nephusim koca.
53con cháu Bác-búc, con cháu Ha-cu-pha, con cháu Ha-rua,
53Bakbuk koca, Hakupha koca, Hahur koca.
54con cháu Bát-lít, con cháu Mê-hi-đa, con cháu Hạt-sa,
54Bazluth koca, Mehida koca, Harsha koca.
55con cháu Bạt-cô, con cháu Si-sê-ra, con cháu Tha-mác,
55Barkos koca, Sisera koca, Temah koca.
56con cháu Nê-xia, con cháu Ha-ti-pha.
56Neziah koca, Hatipha koca.
57Dòng dõi các đầy tớ của Sa-lô-môn: Con cháu Sô-tai, con cháu Sô-phê-rết, con cháu Phê-ri-đa,
57Solomon kah sal koca rhoek ah, Sotai koca, Hassophereth koca, Peruda koca.
58con cháu Gia-a-la, con cháu Đạt-côn, con cháu Ghi-đên,
58Jaala koca, Darkon koca, Giddel koca.
59con cháu Sê-pha-tia, con cháu Hát-tinh, con cháu Phô-kế-rết Hát-xê-ba-im, con cháu A-mon.
59Shephatiah koca, Hattil koca, Pochereth Hazzebaim koca, Amon koca.
60Tổng cộng các người Nê-thi-nim và con cháu các đầy tớ của Sa-lô-môn, là ba trăm chín mươi hai người.
60Tamtaeng rhoek neh Solomon kah sal koca rhoek te a pum la ya thum sawmko panit.
61Nầy là những người ở từ Tên-Mê-la, Tên-Hạt-sa, Kê-rúp, A-đôn, và từ Y-mê mà đi lên; nhưng chúng nó không thể chỉ ra nhà của tổ phụ mình và gốc gác của họ, hoặc thuộc về Y-sơ-ra-ên hay chăng:
61Telmelah, Telharsa, Kherub, Addon neh Immer lamkah aka mael rhoek khaw a napa imkhui neh a tiingan tah thui la lo pawh. Amih te Israel lamkah ngawn ni.
62con cháu Đê-la-gia, con cháu Tô-bi-gia, và con cháu Nê-cô-đa, đều sáu trăm bốn mươi hai người.
62Delaiah koca, Tobiah koca, Nekoda koca rhoek te ya rhuk sawmli panit.
63Về những thầy tế lễ: Con cháu Ha-ba-gia, con cháu Ha-cốt, con cháu Bạt-xi-lai, là người lấy vợ trong vòng con gái của Bạt-xi-lai, người Ga-la-át, và được gọi bằng tên của họ.
63Khosoih rhoek lamloh Hobaiah koca, Koz koca, Barzillai koca long tah a yuu te Giladi Barzillai nu te a loh dongah amih ming la a khue.
64Các người ấy tìm kiếm gia phổ mình, nhưng không thấy, bèn bị trừ ra chức tế lễ, kể cho là ô uế.
64Amih kah a khuui ca te a tlap uh dae a hmu pawt dongah khosoihbi lamloh coom uh coeng.
65Quan tổng trấn cấm chúng ăn những vật chí thánh cho đến chừng có một thầy tế lễ dấy lên dùng U-rim và Thu-nim mà cầu hỏi Đức Chúa Trời.
65Te dongah khosoih loh Urim, Thummim neh a pai hlan hil hmuencim kah buhcim te caak pawt ham amih te tongmang boei loh a uen.
66Cả hội chúng hiệp lại được bốn vạn hai ngàn ba trăm sáu mươi người,
66Hlangping pum te pakhat la thawng sawmli thawng hnih ya thum sawmrhuk lo.
67không kể những tôi trai tớ gái của dân, số được bảy ngàn ba trăm ba mơi bảy người; cũng có hai trăm bốn mươi lăm kẻ ca hát, nam và nữ.
67Amih phoei lamloh a salpa neh a sal huta he thawng rhih ya thum sawmthum parhih lo. Amih laa sa pa neh laa sa nu rhoek khaw ya hnih sawmli panga lo.
68Chúng có bảy trăm ba mươi sáu con ngựa, hai trăm bốn mươi lăm con la,
68Kalauk ya li sawmthum panga, laak thawng rhuk, ya rhih pakul.
69bốn trăm ba mươi lăm con lạc đà, và sáu ngàn bảy trăm hai mươi con lừa.
69A napa rhoek kah boeilu hmuicue lamloh tongmang boei bitat ham a paek uh.
70Có mấy trưởng tộc đem của cung tiến đặng giúp làm công việc. Quan tổng trấn dâng cho kho một ngàn đa-riếc vàng, năm mươi cái chậu, và năm trăm ba mươi cái áo thầy tế lễ.
70Thakvoh khuiah sui tangkathi thawng khat, baelcak sawmnga, khosoih angkidung ya nga sawmthum.
71Có mấy trưởng tộc dâng vào kho tạo tác hai vạn đa-riếc vàng, và hai ngàn hai trăm min bạc.
71A napa boeilu rhoek lamlong khaw bitat dongkah thakvoh khuiah sui tangkathi thawng kul, cak mina thawng hnih ya hnih a sang uh.
72Còn vật dân sự khác dâng, được hai vạn đa-riếc vàng, hai ngàn min bạc, và sáu mươi bảy cái áo thầy tế lễ.
72Pilnam a meet loh a paek te sui tangkathi thawng kul neh cak mina thawng hnih, khosoih angkidung sawmrhuk parhih lo.
73Aáy vậy, những thầy tế lễ, người Lê-vi, kẻ giữ cửa, kẻ ca hát, mấy người trong dân, và người Nê-thi-nim, cùng cả Y-sơ-ra-ên, đều ở trong các thành của mình. Khi tháng bảy đến, thì dân Y-sơ-ra-ên đều ở trong các thành của mình.
73Te dongah khosoih rhoek neh Levi rhoek khaw, thoh tawt rhoek neh laa sa rhoek khaw, pilnam lamkah neh tamtaeng rhoek khaw, Israel pum khaw amamih khopuei ah kho a sak uh. Hla rhih a pha vaengah Israel ca rhoek te amamih kho ah om uh.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.