Ma 27
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibal Olcim (Matupi Chin)
1Đến sáng mai, các thầy tế lễ cả và các trưởng lão trong dân hội nghị nghịch cùng Đức Chúa Jêsus để giết Ngài.
1Mincang a pha atah Jesuh te duek sak hamla khosoihham rhoek neh pilnam khuikah a ham rhoek tah dawtletnah boeih a khueh uh .
2Khi đã trói Ngài rồi, họ đem nộp cho Phi-lát, là quan tổng đốc.
2Jesuh te a khih uh phoeiah a khuen uh tih khoboei Pilat taengah a thak uh .
3Khi ấy, Giu-đa, là kẻ đã phản Ngài, thấy Ngài bị án, thì ăn năn, bèn đem ba chục miếng bạc trả cho các thầy tế lễ cả và các trưởng lão,
3Jesuh a boe sak uh te anih aka voei Judah loh a hmuh vaengah yut tih khosoihham rhoek neh a ham rhoek taengah tangka sawmthum te a balkhong.
4mà nói rằng: Tôi đã phạm tội vì nộp huyết vô tội! Song họ đáp rằng: Sự đó can gì đến chúng ta? Mặc kệ ngươi.
4“Ka tholh tih ommongsitoe thii ka voeih,” a ti nah. Tedae te rhoek loh, “Kaimih neh balae benbo benpang, namah loh ming saw,” a ti na uh.
5Giu-đa bèn ném bạc vào đền thờ, liền trở ra, đi thắt cổ.
5Te dongah tangka te bawkim khuiah a voeih tih vik khoe uh. Te phoeiah cet tih kuiok.
6Nhưng các thầy tế lễ cả lượm bạc và nói rằng: Không có phép để bạc nầy trong kho thánh, vì là giá của huyết.
6Tedae khosoihham rhoek loh tangka te a loh uh tih, “Thii phu la a om dongah Korban khuila khueh ham tueng pawh,” a ti uh.
7Rồi họ bàn với nhau dùng bạc đó mua ruộng của kẻ làm đồ gốm để chôn những khách lạ.
7Te dongah dawtletnah a khueh uh tih te nen te kholong rhoek kah phuel la ambop kah lo te a lai uh.
8Nhân đó, ruộng ấy đến nay còn gọi là “ruộng huyết.”
8Te dongah te kah lohmuen tah tihnin due, “Thii lohmuen, “tila a khue uh.
9Bấy giờ được ứng nghiệm lời đấng tiên tri Giê-rê-mi đã nói rằng: Họ lấy ba chục bạc, là giá của Đấng đã bị định bởi con cái Y-sơ-ra-ên,
9Te dongah tonghma Jeremiah loh a thui tah soep coeng. Te vaengah, “Tangka sawmthum te a doe uh. A phu a tloek te Israel ca rhoek lamloh a tloek uh,” a ti.
10và đưa bạc ấy mà mua ruộng của kẻ làm đồ gốm y như lời Chúa đã truyền cho ta.
10Te phoeiah ka boeipa loh a thuinuet bangla ambop kah lohmuen te tangka la a paek uh ,” a ti.
11Đức Chúa Jêsus đứng trước quan tổng đốc, quan hỏi rằng: Có phải ngươi là Vua của dân Giu-đa không? Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Thật như lời.
11Jesuh te khoboei hmaiah a pai vaengah khoboei loh a dawt tih, “Nang Judah manghai la na om a?” a ti nah hatah Jesuh loh, “ Namah long ni na ti,” a ti nah.
12Trong lúc các thầy tế lễ cả và các trưởng lão kiện Ngài, Ngài không đối đáp gì hết.
12Te vaengah khosoihham rhoek neh patong rhoek loh Jesuh te a paelnaeh dae a doo moenih.
13Phi-lát bèn nói cùng Ngài rằng: Họ có nhiều điều làm chứng kiện ngươi, ngươi há không nghe đến sao?
13Te dongah Pilat loh Jesuh te, “Nang he muep m'pael uh te na yaak moenih a?” a ti nah.
14Song Đức Chúa Jêsus không đáp lại một lời gì, đến nỗi làm cho quan tổng đốc lấy làm lạ lắm.
14Tedae Jesuh loh olka kam khat nen pataeng a lan pawt dongah khoboei te bahoeng a ngaihmang.
15Phàm đến ngày lễ Vượt qua, quan tổng đốc thường có lệ tha một tên tù tùy ý dân muốn.
15Khotue ah ana sainoek tah khoboei loh hlangping ham amamih ngaih thongtla pakhat te a hlah.
16Đang lúc ấy, có một tên phạm nổi tiếng, tên là Ba-ra-ba.
16Te vaengah Barabbas Jesuh la a khue thongtla mingthang te a khueh uh.
17Khi chúng đã nhóm lại, thì Phi-lát hỏi rằng: Các ngươi muốn ta tha người nào, Ba-ra-ba hay là Jêsus gọi là Christ?
17Amih a tingtun uh vaengah Pilat loh amih te, “Jesuh Barabbas neh Khrih la a khue Jesuh khuiah nangmih ham ulae kan hlah ham na ngaih uh,” a ti nah.
18Vì quan ấy biết bởi lòng ghen ghét nên chúng đã nộp Ngài.
18Uethnetnah dongah anih he a voeih uh tila a ming.
19Quan tổng đốc đang ngồi trên tòa án, vợ người sai thưa cùng người rằng: Đừng làm gì đến người công bình đó; vì hôm nay tôi đã bởi cớ người mà đau đớn nhiều trong chiêm bao.
19Pailat te laitloek ngolkhoel dongah a ngol vaengah a yuu loh anih te ol a tah tih, “Hlang dueng te nang hut moenih, anih kongah tihnin ka mang ah mat ka patang,” a ti nah.
20Song các thầy tế lễ cả và các trưởng lão dỗ chúng hãy xin tha Ba-ra-ba và giết Đức Chúa Jêsus
20Tedae khosoihham rhoek neh a ham rhoek loh Barabbas te bih tih Jesuh te poci hamla hlangping te a yoek uh.
21Quan tổng đốc cất tiếng hỏi rằng: Trong hai người nầy, các ngươi muốn ta tha ai? Chúng thưa rằng: Ba-ra-ba.
21Te phoeiah khoboei loh amih te a doo tih, “Panit khuiah ulae nangmih taengah hlah ham na ngaih uh,” a ti nah. Te vaengah te rhoek loh, “Barabbas,” a ti uh.
22Phi-lát nói rằng: Vậy, còn Jêsus gọi là Christ, thì ta sẽ xử thế nào? Chúng đều trả lời rằng: Đóng đinh nó trên cây thập tự!
22Pilat loh amih taengah, “Te koinih Khrih la a khue Jesuh te metlam ka saii eh?” a ti nah hatah, “Tai saeh,” boeih a ti uh.
23Quan hỏi: Song người nầy đã làm việc dữ gì? Chúng lại kêu la lớn hơn rằng: Đóng đinh nó trên cây thập tự!
23Tedae Pilat loh, “Balae thae a saii te,” a ti nah . Te vaengah amih pang uh khungdaeng tih, “Tai laeh,” a ti uh .
24Phi-lát thấy mình không thắng nổi chi hết, mà sự ồn ào càng thêm, thì lấy nước rửa tay trước mặt thiên hạ, mà nói rằng: Ta không có tội về huyết của người nầy; điều đó mặc kệ các ngươi.
24Pilat loh a hoeikhang hae moenih olpungnah ni aka om tila a hmuh. Tui a loh tih hlangping hmaiah kut a yuh phoeiah, “Anih thii dongah ommongsitoe lamni ka om, namamih loh na ming bitni ,” a ti nah .
25Hết thảy dân chúng đều đáp rằng: Xin huyết người lại đổ trên chúng tôi và con cái chúng tôi!
25Te dongah pilnam boeih loh a doo tih, “Anih kah thii tah kaimih so neh ka ca rhoek soah tla saeh,” a ti nah .
26Phi-lát bèn tha tên Ba-ra-ba cho chúng; và khiến đánh đòn Đức Chúa Jêsus, đoạn giao Ngài ra để đóng đinh trên cây thập tự.
26Te vaengah amih hamla Barabbas te a hlah pah. Tedae Jesuh te a tam tih tai ham a paek.
27Lính của quan tổng đốc bèn đem Đức Chúa Jêsus vào công đường, và nhóm cả cơ binh vây lấy Ngài.
27Te phoeiah Jesuh te khoboei kah rhalkap rhoek loh khoboeiyung la a khuen uh tih caem pum loh a tingtun thil uh.
28Họ cổi áo Ngài ra, lấy áo điều mà khoác cho Ngài.
28A himbai te a pit pa uh tih rhalkap himbai a nukyum te anih a bai sak uh.
29Đoạn, họ đương một cái mão gai mà đội trên đầu, và để một cây sậy trong tay hữu Ngài; rồi quì xuống trước mặt Ngài mà nhạo báng rằng: Lạy Vua của dân Giu-đa.
29Hling rhuisam khaw a vaeh uh tih a lu soah a khuem sak uh. Te phoeiah capu kong te a bantang kut ah a pom sak uh. Te vaengah a hmaiah cungkueng neh a tamdaeng uh tih, “Judah manghai na sading saeh,” a ti uh.
30Họ nhổ trên Ngài, và lấy cây sậy đánh đầu Ngài.
30Te phoeiah Jesuh te a timthoeih uh, capu te a loh uh tih a lu ah a boh uh.
31Khi đã nhạo báng Ngài rồi, thì họ cổi áo điều ra mà mặc áo của Ngài lại, rồi đem Ngài đi đóng đinh trên cây thập tự.
31Jesuh a tamdaeng uh vaengah rhalkap himbai te a pit pa uh tih amah kah himbai te a bai sakuh. Te phoeiah tai hamla a khuen uh .
32Khi họ đi ra, gặp một người ở thành Sy-ren tên là Si-môn; thì bắt người vác cây thập tự của Đức Chúa Giê-xu.
32A caeh uh vaengah Kurena hlang, a ming ah Simon te a hmuh uh tih anih te thinglam te a koh hamla a tanolh uh.
33Đã đi tới một chỗ gọi là Gô-gô-tha, nghĩa là chỗ cái Sọ,
33Te phoeiah Golgotha a ti hmuen la pawk uh. Te tah lurhuh la a khue hmuen ni.
34họ cho Ngài uống rượu trộn với mật đắng; song Ngài nếm, thì không chịu uống.
34Te vaengah ankhaa neh a thoek misurtui te ok hamla Jesuh te a paek uh dae a ten vaengah ok ham ngaih pawh.
35Họ đã đóng đinh Ngài trên cây thập tự rồi, thì bắt thăm mà chia nhau áo xống của Ngài.
35Anih a tai uh phoeiah tah a himbai te tael uh thae tih hmulung a naan uh.
36Rồi họ ngồi đó mà canh giữ Ngài.
36Te phoeiah ngol uh tih amah te pahoi a tawt uh.
37Phía trên đầu Ngài họ để cái bảng đề chữ chỉ về án Ngài, rằng: Người Nầy Là Jêsus, Vua Dân Giu-đa.
37Te vaengah a paelnaehnah te a lu soah a khing pa uh tih, “Anih tah Judah manghai Jesuh ni,” tila a daek.
38Cũng lúc đó, họ đóng đinh hai tên trộm cướp với Ngài, một tên ở cây thập tự bên hữu, một tên ở cây thập tự bên tả.
38Te vaengah dingca rhoi tah Jesuh taengkah banvoei ah pakhat neh bantang ah pakhat a tai uh.
39Những kẻ đi ngang qua đó chê cười Ngài, lắc đầu,
39Aka van paitai loh a lu a hinghuen uh tih anih te a soehsal uh.
40mà nói rằng: Ngươi là kẻ phá đền thờ và dựng lại trong ba ngày, hãy cứu lấy mình đi! Nếu ngươi là Con Đức Chúa Trời, hãy xuống khỏi cây thập tự!
40Te vaengah, “Bawkim te aka phae tih hnin thum ah aka sa aw, namah te khang uh lamtah Pathen Capa la na om atah thinglam lamloh suntla lah saw,” a ti na uh.
41Các thầy tế lễ cả, các thầy thông giáo và các trưởng lão cũng nhạo Ngài rằng:
41Khosoihham rhoek, cadaek rhoek neh a ham rhoek long khaw a tamdaeng uh van.
42Nó đã cứu kẻ khác mà cứu mình không được. Nếu phải Vua dân Y-sơ-ra-ên, bây giờ hãy xuống khỏi cây thập tự đi, thì chúng ta mới tin.
42“Hlang tloe te a khang tih amah te khang thai pawh, Israel manghai ni, thinglam lamloh suntla laeh saeh, te vaengah anih te ka tangnah uh bitni.
43Nó nhờ cậy Đức Chúa Trời; nếu Đức Chúa Trời yêu nó thì bây giờ Ngài phải giải cứu cho, vì nó đã nói rằng: Ta là Con Đức Chúa Trời.
43Pathen dongah pangtung lah ko, a ngaih atah hlawt laeh saeh, 'Kai he Pathen Capa ni,’ a ti lah ko,” a ti uh.
44Hai tên trộm cướp bị đóng đinh trên cây thập tự với Ngài cũng nhiếc móc Ngài như vậy.
44A taengkah a tai uh dingca rhoi long khaw amah la a thuithet rhoi.
45Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín, khắp cả xứ đều tối tăm mù mịt.
45Khonoek parhuk lamloh khonoek pako duela diklai boeih te yinnah loh a khuk thil coeng.
46Ước chừng giờ thứ chín, Đức Chúa Jêsus kêu tiếng lớn lên rằng: Ê-li, Ê-li, lam-ma sa-bách-ta-ni? nghĩa là: Đức Chúa Trời tôi ơi! Đức Chúa Trời tôi ơi! sao Ngài lìa bỏ tôi?
46Khonoek pako tluk atah Jesuh tah ol a len pang tih, “ Eli Eli lama sabakhthani,” a ti. Te tah, 'Ka Pathen, Ka Pathen oeh, balae tih kai nan phap, ' tila om.
47Có mấy người đứng đó, nghe kêu, thì nói rằng: Nó kêu Ê-li.
47Aka pai rhoek khuikah hlangvang a yaak uh vaengah, “Anih loh Elijah a khue,” a ti uh.
48Liền có một người trong bọn họ chạy lấy một miếng bông đá, và thấm đầy dấm, để trên đầu cây sậy mà đưa cho Ngài uống.
48Te vaengah amih khuikah pakhat tah tlek yong tih caethum te a loh. Yuthui neh a sul phoeiah capu kong dongah a yen tih Jesuh te a tul.
49Nhưng kẻ khác thì lại nói rằng: Hãy để vậy, coi thử có Ê-li đến giải cứu nó chăng.
49Tedae a tloe rhoek loh, “Hlah dae, anih aka khang ham Elijah ha pawk venim so uh lah sih,” a ti uh.
50Đức Chúa Jêsus lại kêu lên một tiếng lớn nữa, rồi trút linh hồn.
50Te phoeiah Jesuh te ol a len ngai la koep pang tih mueihla te pak a hlah.
51Và nầy, cái màn trong đền thờ, bị xé ra làm hai từ trên chí dưới, đất thì rúng động, đá lớn bể ra,
51Te vaengah bawkim kah hniyan te a so lamloh a hmui due panit la pawn tih diklai khaw hinghuen, lungpang khaw paeng.
52mồ mả mở ra, và nhiều thây của các thánh qua đời được sống lại.
52Hlan khaw ong uh tih aka ip tangtae hlangcim rhoek kah a pum muep thoo uh.
53Sau khi Đức Chúa Jêsus đã sống lại, các thánh đó ra khỏi mồ mả, đi vào thành thánh, và hiện ra cho nhiều người thấy.
53A thohkoepnah hnukah phuel lamkah aka cet rhoek tah khopuei cim la kun uh tih muep a yaak sak uh.
54Thầy đội và những lính cùng với người canh giữ Đức Chúa Jêsus, thấy đất rúng động và những điều xảy đến, thì sợ hãi lắm, mà nói rằng: Thật người nầy là Con Đức Chúa Trời.
54Te vaengah rhalboei neh anih taengkah Jesuh aka tawt rhoek loh lingluei neh aka thoeng hno te a hmuh uh tih bahoeng a rhih uh. Te vaengah, “Anih tah Pathen Capa la om tangtang,” a ti uh.
55Vả, có nhiều người đàn bà đứng coi ở đàng xa, là người đã đi theo Đức Chúa Jêsus từ xứ Ga-li-lê để hầu việc Ngài.
55Tekah aka om huta rhoek long khaw a hla lamloh muep a hmuh uh. Amih loh Jesuh te Galilee lamkah a vai uh tih a taengah thotat uh.
56Trong những đàn bà đó có Ma-ri Ma-đơ-len, Ma-ri, mẹ của Gia-cơ và Giô-sép, và mẹ hai con trai của Xê-bê-đê.
56Amih lakliah Magadala kah Mary, James neh Joseph kah a manu Mary neh Zebedee kah capa rhoek kah a manu khaw om.
57Đến chiều tối, có một người giàu, ở thành A-ri-ma-thê, tên là Giô-sép, chính là một môn đồ của Đức Chúa Jêsus,
57Hlaem a pha vaengah tah Arimathea kah kuirhang hlang pakhat a ming ah Joseph te ha pawk. Anih tah amah rhoe khaw Jesuh taengah bang.
58đến nơi Phi-lát mà xin xác Đức Chúa Jêsus. Phi-lát bèn truyền cho.
58Anih loh Jesuh rhok bih hamla Pilat te a paan vaengah mael hamla Pilat loh ol a paek.
59Giô-sép lấy xác Ngài mà bọc trong tấm vải liệm trắng,
59Joseph loh rhok te a loh phoeiah hnipen aka caih neh a yen.
60và đưa để trong một cái huyệt mới mà người đã khiến đục cho mình trong hòn đá; đoạn, lăn một hòn đá lớn đến trước cửa mồ, rồi đi.
60Te phoeiah lungpang khuiah a thai la a thuk hlan khuiah a khueh. Te vaengah hlan thohka te lungto len a paluet thil tih a caeh tak .
61Có Ma-ri Ma-đơ-len và Ma-ri khác ở đó, ngồi đối ngang huyệt.
61Te vaengah Magadala Mary neh a tloe Mary tah pahoi om tih hlan kah hmai ah ngol rhoi.
62Đến ngày mai (là ngày sau ngày sắm sửa), các thầy tế lễ cả và người Pha-ri-si cùng nhau đến Phi-lát
62Rhuengphongnah a om phoeikah a vuen ah khosoihham rhoek neh Pharisee rhoek loh Pilat taengah tingtun uh .
63mà nói rằng: Thưa chúa, chúng tôi nhớ người gian dối nầy, khi còn sống, có nói rằng: Khỏi ba ngày thì ta sẽ sống lại.
63Te vaengah “Boeipa, te kah laithaelaidang loh a hing vaengah, “' Hnin thum phoeiah ka thoo ni,’ a ti te ka poek uh.
64Vậy, xin hãy cắt người canh mả cẩn thận cho đến ngày thứ ba, kẻo môn đồ nó đến lấy trộm xác đi, rồi nói với chúng rằng: Ngài đã từ kẻ chết sống lại. Sự gian dối sau đó sẽ tệ hơn sự gian dối trước.
64Te dongah hlan te a thum hnin duela tawt ham olpae mai. A hnukbang rhoek ha pawk uh tih huen uh ve. Te vaengah pilnam taengah, 'Duek lamloh thoo coeng,’ ti ve. Te dongah a hnukkhueng kah tholhhiknah tah lamhma lakah a thae la om ve,” a ti uh.
65Phi-lát nói với họ rằng: Các ngươi có lính canh; hãy đi canh giữ theo ý các ngươi.
65Pilat loh amih taengah, “Rhaltawt na khueh uh te ta, Cet uh lamtah na ming uh bangla tawt uh ,” a ti nah .
66Vậy, họ đi, niêm phong mả Ngài lại, cắt lính canh giữ, lấy làm chắc chắn lắm.
66Te phoeiah amih te cet uh tih phuel ah rhaltawt taengkah lungto te kutnoek a daeng thil tih a khoh uh .
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.