Quan 13
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Bíblia Portuguesa Mundial (Brazilian Portuguese)
1Dân Y-sơ-ra-ên cứ làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va, nên Đức Giê-hô-va phó chúng vào tay dân Phi-li-tin trọn bốn mươi năm.
1Os filhos de Israel voltaram a fazer o que era mau aos olhos do SENHOR; e o SENHOR os entregou nas mãos dos filisteus por quarenta anos.
2Vả, có một người Xô-rê-a, thuộc về một họ hàng của chi phái Đan, tên là Ma-nô-a; vợ người son-sẽ, không có con.
2Havia um certo homem de Zorá, da família dos danitas, cujo nome era Manoá; a sua mulher era estéril e não tinha filhos.
3Thiên sứ của Đức Giê-hô-va hiện đến cùng người đàn bà ấy mà rằng: Kìa, ngươi son sẻ không có con; nhưng ngươi sẽ thọ thai và sanh một con trai.
3O anjo do SENHOR apareceu à mulher e lhe disse: “Eis que você é estéril e não tem filhos; mas você conceberá e dará à luz um filho.
4Vậy, từ bây giờ hãy cẩn thận, chớ uống rượu hay là vật chi say, và cũng đừng ăn vật gì chẳng sạch;
4Agora, portanto, tenha cuidado para não beber vinho nem bebida forte, e não coma nada impuro;
5vì người sẽ có nghén và sanh một đứa con trai. Dao cạo sẽ không đưa qua đầu nó, bởi vì đứa trẻ từ trong lòng mẹ sẽ làm người Na-xi-rê cho Đức Chúa Trời; về sau nó sẽ giải cứu Y-sơ-ra-ên khỏi tay dân Phi-li-tin.
5pois eis que você conceberá e dará à luz um filho. Nenhuma navalha passará sobre a sua cabeça, pois o menino será um nazireu para Deus desde o ventre. Ele começará a salvar Israel das mãos dos filisteus.”
6Người đàn bà đi thuật lại cùng chồng mình rằng: Một người của Đức Chúa Trời đến cùng tôi, diện mạo người giống như diện mạo thiên sứ của Đức Chúa Trời, rất đáng kính đáng sợ. Tôi không dám hỏi người ở đâu, người cũng không tỏ cho biết tên người;
6Então a mulher foi e contou a seu marido, dizendo: “Um homem de Deus veio a mim, e a aparência dele era como a aparência do anjo de Deus, muito temível. Não lhe perguntei de onde ele era, nem ele me disse o seu nome;
7nhưng người có nói cùng tôi rằng: Kìa, ngươi sẽ thọ thai và sanh một đứa trai; vậy bây giờ, chớ uống rượu hay là vật chi say, và cũng đừng ăn vật gì chẳng sạch; vì đứa trẻ đó, từ trong lòng mẹ cho đến ngày qua đời, sẽ làm người Na-xi-rê cho Đức Chúa Trời.
7mas ele me disse: ‘Eis que você conceberá e dará à luz um filho; agora, não beba vinho nem bebida forte. Não coma nada impuro, pois o menino será um nazireu para Deus desde o ventre até o dia da sua morte.’”
8Ma-nô-a cầu nguyện Đức Giê-hô-va mà rằng: Oâi, Chúa! xin Chúa cho người của Đức Chúa Trời mà Chúa đã sai xuống, lại đến cùng chúng tôi, đặng dạy chúng tôi điều phải làm cho đứa trẻ sẽ sanh ra!
8Então Manoá orou ao SENHOR e disse: “Ó Senhor, por favor, permite que o homem de Deus que enviaste venha novamente a nós, e nos ensine o que devemos fazer com o menino que vai nascer.”
9Đức Chúa Trời nhậm lời cầu nguyện của Ma-nô-a. Thiên sứ của Đức Chúa Trời lại đến cùng người đàn bà đang khi ngồi trong đồng ruộng; còn Ma-nô-a, chồng nàng, không có tại đó với nàng.
9Deus ouviu a voz de Manoá, e o anjo de Deus veio novamente à mulher enquanto ela estava sentada no campo; mas Manoá, seu marido, não estava com ela.
10Người đàn bà liền chạy đi thuật cho chồng rằng: Kìa, người đã đến cùng tôi ngày nọ, nay lại hiện đến.
10A mulher se apressou e correu para contar a seu marido, dizendo-lhe: “Eis que o homem que veio a mim naquele dia me apareceu.”
11Ma-nô-a đứng dậy, đi theo vợ mình, và khi đến gần người đó, thì nói rằng: Oâng có phải là người đã nói cùng đàn bà nầy chăng? Người đáp: Aáy là ta.
11Manoá se levantou, seguiu a sua mulher, foi até o homem e lhe perguntou: “Você é o homem que falou com a minha mulher?” Ele respondeu: “Eu sou.”
12Ma-nô-a tiếp: Khi lời ông ứng nghiệm, thì đứa trẻ phải giữ theo lệ nào, và phải làm làm sao?
12Manoá disse: “Quando as suas palavras se cumprirem, qual será o modo de vida do menino e a sua missão?”
13Thiên sứ của Đức Giê-hô-va đáp cùng Ma-nô-a rằng: Người đàn bà phải kiêng cữ mọi điều ta đã dặn
13O anjo do SENHOR disse a Manoá: “De tudo o que eu disse à mulher, que ela tenha cuidado.
14nàng chớ nên ăn sản vật gì của vườn nho, chớ nên uống rượu hay là vật chi uống say, và cũng đừng ăn vật gì chẳng sạch, người khá giữ theo mọi điều ta đã chỉ dạy cho.
14Ela não deve comer nada que venha da videira, nem beber vinho ou bebida forte, nem comer nada impuro. Que ela guarde tudo o que eu lhe ordenei.”
15Bấy giờ, Ma-nô-a thưa cùng thiên sứ của Đức Giê-hô-va rằng: Xin cho phép chúng tôi cầm ông lại đặng dọn dâng cho ông một con dê con.
15Manoá disse ao anjo do SENHOR: “Por favor, fique conosco, para que possamos preparar-lhe um cabrito.”
16Thiên sứ của Đức Giê-hô-va đáp cùng Ma-nô-a rằng: Dầu ngươi cầm ta lại, ta cũng chẳng ăn thực vật của ngươi; nhưng nếu muốn làm một của lễ thiêu, thì hãy dâng lên cho Đức Giê-hô-va. Vả, Ma-nô-a không rõ ấy là thiên sứ của Đức Giê-hô-va,
16O anjo do SENHOR disse a Manoá: “Embora você me detenha, eu não comerei o seu pão. Se você quiser preparar um holocausto, deve oferecê-lo ao SENHOR.” Pois Manoá não sabia que ele era o anjo do SENHOR.
17Ma-nô-a lại thưa cùng thiên sứ của Đức Giê-hô-va rằng: Danh ông là chi, để chúng tôi tôn trọng ông khi lời ông phán được ứng nghiệm?
17Manoá perguntou ao anjo do SENHOR: “Qual é o seu nome, para que, quando as suas palavras se cumprirem, possamos honrá-lo?”
18Thiên sứ của Đức Giê-hô-va đáp rằng: Sao ngươi hỏi danh ta như vậy? Danh ta lấy làm diệu k”.
18O anjo do SENHOR lhe respondeu: “Por que você pergunta pelo meu nome, visto que é incompreensível?”
19Ma-nô-a bắt con dê con luôn với của lễ chay, dâng lên cho Đức Giê-hô-va tại trên hòn đá. Thiên sứ bèn làm ra một việc lạ lùng, có Ma-nô-a và vợ người làm chứng kiến.
19Então Manoá pegou o cabrito com a oferta de cereais e o ofereceu sobre a rocha ao SENHOR. E o anjo fez uma coisa maravilhosa enquanto Manoá e sua mulher observavam.
20trong lúc ngọn lửa từ bàn thờ cất bay lên trên trời, thì thiên sứ của Đức Giê-hô-va cũng lên theo trong ngọn lửa của bàn thờ. Thấy vậy, Ma-nô-a té sấp mặt xuống đất.
20Pois quando a chama subiu do altar em direção ao céu, o anjo do SENHOR subiu na chama do altar. Manoá e sua mulher viram isso; e prostraram-se com o rosto em terra.
21Thiên sứ của Đức Giê-hô-va chẳng còn hiện đến cùng Ma-nô-a và vợ người nữa. Ma-nô-a nhận biết ấy là thiên sứ của Đức Giê-hô-va,
21Mas o anjo do SENHOR nunca mais apareceu a Manoá nem à sua mulher. Então Manoá percebeu que era o anjo do SENHOR.
22bèn nói cùng vợ rằng: Quả thật chúng ta sẽ chết, vì đã thấy Đức Chúa Trời!
22Manoá disse à sua mulher: “Certamente morreremos, porque vimos a Deus.”
23Nhưng vợ đáp rằng: Nếu Đức Giê-hô-va muốn giết chúng ta, lẽ nào Ngài có nhậm của lễ thiêu và của lễ chay nơi tay ta, lại lẽ nào Ngài đã cho chúng ta thấy các điều nầy, và cho ta nghe những lời mà chúng ta đã nghe ngày nay.
23Mas a sua mulher lhe respondeu: “Se o SENHOR quisesse nos matar, não teria aceitado o holocausto e a oferta de cereais de nossas mãos, nem nos teria mostrado todas essas coisas, nem nos teria falado tais coisas neste momento.”
24Người đàn bà này sanh một con trai, đặt tên là Sam-sôn. Đứa trẻ lớn lên, và Đức Giê-hô-va ban phước cho.
24A mulher deu à luz um filho e lhe deu o nome de Sansão. O menino cresceu, e o SENHOR o abençoou.
25Thần Đức Giê-hô-va khởi cảm động người tại trong dinh Đan, giữa khoảng Xô-rê-a và Ê-ta-ôn.
25O Espírito do SENHOR começou a movê-lo em Maané-Dã, entre Zorá e Estaol.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.