Giáo 6
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Có một tai nạn khác mà ta đã thấy dưới mặt trời, thường làm nặng nề cho loài người.
1A IA no ka mea pono ole a'u i ike ai malalo iho o ka la, a he mea nui la maluna o na kanaka.
2Kìa có một người mà Đức Chúa Trời đã ban cho sự giàu có, của cải, và sang trọng, đến đỗi mọi sự lòng người ước ao, chẳng thiếu gì hết; nhưng Đức Chúa Trời không cho người có thể ăn lấy, bèn là một người khác được ăn. Aáy là một sự hư không, một tai nạn cực khổ.
2O ke kanaka ka mea a ke Akua i haawi mai ai i ka waiwai nona, a me ka lako me ka hanohano; aole nele iki kona uhane i na mea ana e makemake ai, aka hoi, aole i ae mai ke Akua e ai ia i keia mau mea, aka, ua aiia kana e ka malihini. He mea lapuwale keia, a he mea ino hoi.
3Nếu một người sanh trăm con trai, và sống nhiều năm cho đến cao niên trường thọ, mà lòng chẳng được hưởng phước, và chết chẳng được chôn; ta nói đứa con sảo còn hơn người ấy;
3Ina i loaa i ke kanaka na keiki hookahi haneri, a ola ia i na makahiki he nui loa, aole okana mai na la o kona mau makahiki, aole nae i maona kona uhane i ka maikai, aole hoi ona wahi e kanuia'i; ke hai aku nei au, ua oi aku ka maikai o ke keiki oiliwale i kona.
4vì đứa con sảo ra hư không, lại trở về sự tối tăm, và tên nó bị sự u ám vùi lấp.
4No ka mea, ua puka mai oia ma ka lapuwale, a hele aku la ia ma ka pouli, a ua uhiia kona inoa i ka pouli.
5Nó không thấy mặt trời, cũng không biết đến; nó có được phần an nghỉ hơn người kia.
5Aole hoi ia i nana i ka la, aole oia i ike iki, ua oi aku ko ia nei oluolu i ko ia la.
6Người dầu sống đến hai ngàn năm, mà không hưởng được chút phước nào, cuối cùng cả thảy há chẳng về chung một chỗ sao?
6Oia, ina e ola ia i na makahiki hookahi tausani ke paluaia, aole hoi oia i ike i ka maikai. Aole anei e hele na mea a pau i kahi hookahi?
7Mọi sự lao khổ của loài người là vì miệng mình, song không hề được thỏa nguyện.
7O na hana a pau a ke kanaka, na kona waha iho no ia, aole nae i maona kona opu.
8Người khôn ngoan hơn chi kẻ ngu muội? Người nghèo biết đạo ăn ở trước mặt người ta, nào có ích chi?
8Ma na mea hea i oi aku ai ka mea naauao mamua o ka mea naaupo? Heaha ka mea i loaa i ka ilihune, ka mea i ike i ka hele ana imua o ka poe ola?
9Sự gì thấy bằng mắt hơn là sự tham muốn buông tuồng; điều đó lại là một sự hư không, theo luồng gió thổi.
9Ua oi aku ka maikai o ka ike maka ana mamua o ka hele ana'ku o ka manao. He mea lapuwale keia, a me ka luhi hewa.
10Phàm điều gì có trước thì đã được đặt tên từ lâu rồi; loài người sẽ ra thể nào, thì đã biết từ trước rồi; người không thể cãi trả với Đấng mạnh hơn mình.
10O ka mea i hala aku nei, ua kapaia kona inoa, a o ke kanaka hoi ua ikeia oia, aole hiki ia ia ke ku e i ka mea mana mamua ona.
11Có nhiều điều gia thêm sự hư không; vậy, người ta được ích chi hơn;
11Nolaila, ua mahuahua ka lapuwale ma na mea he nui loa; a pehea la e pono ai ke kanaka?
12vả, trong những ngày của đời hư không mà loài người trải qua như bóng, ai biết điều gì là ích cho mình? Vì ai có thể nói trước cho người nào về điều sẽ xảy ra sau mình dưới mặt trời?
12No ka mea, owai ka mea i ike i ka mea e pono ai ke kanaka i kona ola ana, i na la a pau o kona ola lapuwale ana i hoopau ai me he aka la; a owai hoi ka mea nana e hai aku i ke kanaka i na mea e hiki mai ana mahope ona malalo iho o ka la?
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.