Ϯ⳰ⲀⲠⲞⲔⲀⲖⲨⳘⲮⲒⲤ
Chapter 21

Ϯ⳰ⲀⲠⲞⲔⲀⲖⲨⳘⲮⲒⲤ

Coptic New Testament
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers

Ϯ⳰ⲀⲠⲞⲔⲀⲖⲨⳘⲮⲒⲤ 21

Coptic New Testament
Vietnamese Bible (1923 translation)
1ⲟⲩⲟϩ ⲁⲓⲛⲁⲩ ⳿ⲉⲟⲩⲫⲉ ⳿ⲙⲃⲉⲣⲓ ⲛⲉⲙ ⲟⲩⲕⲁϩⲓ ⳿ⲙⲃⲉⲣⲓ ϯⲫⲉ ⲅⲁⲣ ⳿ⲛϩⲟⲩⲓϯ ⲛⲉⲙ ⲡⲓⲕⲁϩⲓ ⲁⲩϣⲉ ⲛⲱⲟⲩ ⲟⲩⲟϩ ⳿ⲙⲙⲟⲛ ⲓⲟⲙ ϫⲉ.
1Đoạn, tôi thấy trời mới và đất mới; vì trời thứ nhất và đất thứ nhất đã biến đi mất, và biển cũng không còn nữa.
2ⲟⲩⲟϩ ⲁⲓⲛⲁⲩ ⳿ⲉϯⲃⲁⲕⲓ ⲉⲑⲟⲩⲁⲃ ⳿ⲓⲗ̅ⲏ̅ⲙ̅ ⳿ⲙⲃⲉⲣⲓ ⲉⲥⲛⲏⲟⲩ ⳿ⲉⲡⲉⲥⲏⲧ ⳿ⲉⲃⲟⲗ ϧⲉⲛ ⳿ⲧⲫⲉ ϩⲓⲧⲉⲛ ⲫϯ ⲉⲥⲥⲉⲃⲧⲱⲧ ⳿ⲙ⳿ⲫⲣⲏϯ ⳿ⲛⲟⲩϣⲉⲗⲉⲧ ⲉⲥⲥⲉⲗⲥⲱⲗ ⳿ⲙⲡⲉⲥϩⲁⲓ.
2Tôi cũng thấy thành thánh, là Giê-ru-sa-lem mới, từ trên trời, ở nơi Đức Chúa Trời mà xuống, sửa soạn sẵn như một người vợ mới cưới trang sức cho chồng mình.
3ⲟⲩⲟϩ ⲁⲓⲥⲱⲧⲉⲙ ⳿ⲉⲟⲩⲛⲓϣϯ ⳿ⲛ⳿ⲥⲙⲏ ⳿ⲉⲃⲟⲗ ϧⲉⲛ ⳿ⲧⲫⲉ ⲉⲥϫⲱ ⳿ⲙⲙⲟⲥ ϫⲉ ⲓⲥ ϯ ⳿ⲥⲕⲩⲛⲏ ⳿ⲛⲧⲉ ⲫϯ ⲉⲥⲭⲏ ⲛⲉⲙ ⲛⲓⲣⲱⲙⲓ ⲟⲩⲟϩ ⲉϥ⳿ⲉϣⲱⲡⲓ ⲛⲉⲙⲱⲟⲩ ⲟⲩⲟϩ ⳿ⲛⲑⲱⲟⲩ ϩⲱⲟⲩ ⲉⲩ⳿ⲉϣⲱⲡⲓ ⲛⲁϥ ⳿ⲉⲟⲩⲗⲁⲟⲥ ⲟⲩⲟϩ ⳿ⲛⲑⲟϥ ⲫϯ ⲉϥ⳿ⲉϣⲱⲡⲓ ⲛⲉⲙⲱⲟⲩ.
3Tôi nghe một tiếng lớn từ nơi ngai mà đến, nói rằng: nầy, đền tạm của Đức Chúa Trời ở giữa loài người! Ngài sẽ ở với chúng, và chúng sẽ làm dân Ngài; chính Đức Chúa Trời sẽ ở với chúng.
4ⲉϥ⳿ⲉϥⲉⲧ ⲉⲣⲙⲏ ⲛⲓⲃⲉⲛ ⳿ⲉⲃⲟⲗ ϧⲉⲛ ⲛⲟⲩⲃⲁⲗ ⲟⲩⲟϩ ⳿ⲛⲛⲉ ⲙⲟⲩ ϣⲱⲡⲓ ϫⲉ ⲟⲩⲇⲉ ϩⲏⲃⲓ ⲟⲩⲇⲉ ⳿ϧⲣⲱⲟⲩ ⳿ⲛⲛⲉ ϧⲓⲥⲓ ϣⲱⲡⲓ ϫⲉ ⲉⲡⲓⲇⲏ ⲛⲓϩⲟⲩⲁϯ ⲁⲩⲥⲓⲛⲓ ϩⲏⲡⲡⲉ ⲥⲉⲛⲁⲉⲣⲃⲉⲣⲓ ⲧⲏⲣⲟⲩ.
4Ngài sẽ lau ráo hết nước mắt khỏi mắt chúng, sẽ không có sự chết, cũng không có than khóc, kêu ca, hay là đau đớn nữa; vì những sự thứ nhất đã qua rồi.
5ⲟⲩⲟϩ ⲡⲉϫⲉ ⲫⲏⲉⲧϩⲉⲙⲥⲓ ϩⲓ ⲡⲓ⳿ⲑⲣⲟⲛⲟⲥ ⲛⲏⲓ ϫⲉ ϩⲏⲡⲡⲉ ϯⲛⲁⲁⲓⲧⲟⲩ ⳿ⲙⲃⲉⲣⲓ ⲧⲏⲣⲟⲩ ⲟⲩⲟϩ ⲡⲉϫⲁϥ ⲛⲏⲓ ϫⲉ ⳿ⲥϧⲁⲓ ⳿ⲛⲛⲁⲓⲥⲁϫⲓ ⲥⲉ⳿ⲛϩⲟⲧ ⲟⲩⲟϩ ϩⲁⲛⲙⲉⲑⲙⲏⲓ ⲛⲉ.
5Đấng ngự trên ngôi phán rằng: Nầy, ta làm mới lại hết thảy muôn vật. Đoạn, lại rằng: Hãy chép; vì những lời nầy đều trung tín và chân thật.
6ⲟⲩⲟϩ ⲡⲉϫⲁϥ ⲛⲏⲓ ϫⲉ ⳿ⲁⲛⲟⲕ ⲡⲉ ⲡⲓⲁⲗⲁⲫⲁ ⲛⲉⲙ ⲡⲓⲱ ϯⲁⲣⲭⲏ ⲛⲉⲙ ⲡⲓϫⲱⲕ ⳿ⲉⲃⲟⲗ ⳿ⲁⲛⲟⲕ ⲡⲉ ⲫⲏⲉⲑⲛⲁϯ ⳿ⲙⲫⲏⲉⲧⲟⲃⲓ ⳿ⲉⲃⲟⲗ ϧⲉⲛ ϯⲙⲟⲩⲙⲓ ⳿ⲙⲙⲱⲟⲩ ⳿ⲛⲱⲛϧ ⳿ⲛϫⲓⲛϫⲏ.
6Ngài lại phán cùng tôi rằng: Xong rồi! Ta là An-pha và Ô-mê-ga, nghĩa là đầu tiên và cuối cùng. Kẻ nào khát, ta sẽ lấy nước suối sự sống mà ban cho nhưng không.
7ⲫⲏⲉⲑⲛⲁϭⲣⲟ ⲉϥ⳿ⲉⲉⲣ⳿ⲕⲗⲏⲣⲟⲛⲟⲙⲓⲛ ⳿ⲛⲛⲁⲓ ⲟⲩⲟϩ ⲉⲓ⳿ⲉϣⲱⲡⲓ ⲛⲁϥ ⳿ⲛⲛⲟⲩϯ ⲟⲩⲟϩ ⳿ⲛⲑⲟϥ ⲉϥ⳿ⲉϣⲱⲡⲓ ⲛⲏⲓ ⳿ⲛϣⲏⲣⲓ.
7Kẻ nào thắng sẽ được những sự ấy làm cơ nghiệp, ta sẽ làm Đức Chúa Trời người và người sẽ làm con ta.
8ⲛⲏ ⲇⲉ ⲉⲑⲛⲁⲉⲣ⳿ϣⲗⲁϩ ⳿ⲛϩⲏⲧ ⲛⲉⲙ ⲛⲓⲁⲧⲛⲁϩϯ ⲛⲉⲙ ⲛⲓⲥⲁϥϩⲏⲧ ⲛⲉⲙ ⲛⲓⲣⲉϥϧⲱⲧⲉⲃ ⲛⲉⲙ ⲛⲓⲡⲟⲣⲛⲟⲥ ⲛⲉⲙ ⲛⲓϣⲁⲙϣⲉ ⲓϧ ⲛⲉⲙ ⲛⲓⲥⲁⲙⲉⲑⲛⲟⲩϫ ⲡⲟⲩⲙⲉⲣⲟⲥ ⲉϥ⳿ⲉϣⲱⲡⲓ ϧⲉⲛ ϯⲗⲩⲙⲛⲏ ⳿ⲛⲧⲉ ⲡⲓ⳿ⲭⲣⲱⲙ ⲛⲉⲙ ⲡⲓⲑⲏⲛ ⲉⲧⲉ ⲡⲓⲙⲟⲩ ⳿ⲙⲙⲁϩⲃ̅ ⲡⲉ.
8Còn những kẻ hèn nhát, kẻ chẳng tin, kẻ đáng gớm ghét, kẻ giết người, kẻ dâm loạn, kẻ phù phép, kẻ thờ thần tượng, và phàm kẻ nào nói dối, phần của chúng nó ở trong hồ có lửa và diêm cháy bừng bừng: đó là sự chết thứ hai.
9ⲟⲩⲟϩ ⲁϥ⳿ⲓ ⳿ⲛϫⲉ ⲟⲩⲁⲓ ⳿ⲉⲃⲟⲗ ϧⲉⲛ ⲡⲓⲍ̅ ⳿ⲛⲁⲅⲅⲉⲗⲟⲥ ⲛⲏⲉⲧⲉ ϯⲍ̅ ⳿ⲙⲫⲩⲁⲗⲏ ⳿ⲛⲧⲟⲧⲟⲩ ⲉⲩⲙⲉϩ ⳿ⲉⲃⲟⲗ ϧⲉⲛ ⲡⲓⲍ̅ ⳿ⲛⲉⲣϧⲟⲧ ⳿ⲛϧⲁ⳿ⲉ ⲁϥⲥⲁϫⲓ ⲛⲉⲙⲏⲓ ⲉϥϫⲱ ⳿ⲙⲙⲟⲥ ϫⲉ ⲁⲙⲟⲩ ⳿ⲛⲧⲁⲧⲁⲙⲟⲕ ⳿ⲉϯϣⲉⲗⲉⲧ ⳿ⲧ⳿ⲥϩⲓⲙⲓ ⳿ⲛⲧⲉ ⲡⲓϩⲓⲏⲃ.
9Một vị trong bảy thiên sứ đã cầm bảy bát đựng đầy bảy tai nạn cuối cùng, đến gần tôi, bảo rằng: Hãy đến, ta sẽ chỉ cho ngươi thấy người vợ mới cưới là vợ Chiên Con.
10ⲟⲩⲟϩ ⲁϥⲟⲗⲧ ϧⲉⲛ ⲡⲓⲡ͞ⲛⲁ̅ ⳿ⲉ⳿ⲡϣⲱⲓ ⳿ⲉϫⲉⲛ ⲟⲩⲛⲓϣϯ ⳿ⲛⲧⲱⲟⲩ ⲉϥϭⲟⲥⲓ ⲁϥⲧⲁⲙⲟⲓ ⳿ⲉϯⲃⲁⲕⲓ ⲉⲑⲟⲩⲁⲃ ⳿ⲓⲗ̅ⲏ̅ⲙ̅ ⲉⲥⲛⲏⲟⲩ ⳿ⲉⲡⲉⲥⲏⲧ ⳿ⲉⲃⲟⲗ ϧⲉⲛ ⳿ⲧⲫⲉ ϩⲓⲧⲉⲛ ⲫϯ.
10Rồi tôi được Thánh Linh cảm động, thiên sứ đó đưa tôi đến trên một hòn núi lớn và cao, và chỉ cho tôi thấy thành thánh, là Giê-ru-sa-lem, từ trên trời, ở nơi Đức Chúa Trời mà xuống,
11ⲑⲏ ⲉⲑⲟⲩⲁⲃ ⲉⲑⲙⲉϩ ⳿ⲛⲱⲟⲩ ⲡⲉⲥⲟⲩⲱⲓⲛⲓ ⲇⲉ ⲉϥⲟⲓ ⳿ⲛⲟⲩⲱⲓⲛⲓ ⲉϥⲧⲁⲓⲏⲟⲩⲧ ⳿ⲙ⳿ⲫⲣⲏϯ ⳿ⲛⲟⲩⲟⲩⲱⲓⲛⲓ ⳿ⲛⲓⲁⲥⲡⲓⲥ ⲉϥⲧⲁⲓⲏⲟⲩⲧ ⲉϥⲟⲓ ⳿ⲛ⳿ⲭⲣⲓⲥⲧⲁⲗⲟⲥ.
11rực rỡ vinh hiển của Đức Chúa Trời. Sự chói sáng của thành ấy giống như của một viên bửu thạch, như bích ngọc sáng suốt.
12⳿ⲉⲟⲩⲟⲛ ⳿ⲛⲧⲁⲥ ⳿ⲛⲟⲩⲛⲓϣϯ ⳿ⲛⲥⲟⲃⲧ ⳿ⲙⲙⲁⲩ ⲉϥϭⲟⲥⲓ ⲛⲉⲙ ⲡⲓⲓ̅ⲃ̅ ⳿ⲙⲡⲩⲗⲱⲛ ⲟⲩⲟϩ ⲡⲓⲓ̅ⲃ̅ ⳿ⲛⲁⲅⲅⲉⲗⲟⲥ ϩⲓⲣⲉⲛ ⲛⲓⲡⲩⲗⲱⲛ ⲛⲉⲙ ϩⲁⲛⲣⲁⲛ ⲉⲩ⳿ⲥϧⲏⲟⲩⲧ ⳿ⲉ⳿ⲫⲣⲁⲛ ⳿ⲛϯⲓ̅ⲃ̅ ⳿ⲙⲫⲩⲗⲏ ⳿ⲛⲧⲉ ⲛⲉⲛϣⲏⲣⲓ ⳿ⲙ⳿ⲡⲓⲥ̅ⲗ̅.
12Thành có một bức tường cao lớn, với mười hai cửa, trên những cửa có mười hai vị thiên sứ, cùng những danh đề, là danh mười hai chi phái của con cháu Y-sơ-ra-ên:
13ⲥⲁ⳿ⲡⲉⲓⲉⲃⲧ ⲅ̅ ⳿ⲙⲡⲩⲗⲱⲛ ⲥⲁⲣⲏⲥ ⳿ⲙⲙⲟⲥ ⲅ̅ ⳿ⲙⲡⲩⲗⲱⲛ ⲟⲩⲟϩ ⳿ⲡⲉⲙⲉⲛⲧ ⳿ⲛⲧⲉ ϯⲡⲟⲗⲓⲥ ⲅ̅ ⳿ⲙⲡⲩⲗⲱⲛ ⲟⲩⲟϩ ⲥⲁⲡⲉⲙϩⲓⲧ ⲅ̅ ⳿ⲙⲡⲩⲗⲱⲛ.
13phía đông có ba cửa; phía bắc có ba cửa; phía nam có ba cửa; phía tây có ba cửa.
14ⲟⲩⲟϩ ⲡⲓⲥⲟⲃⲧ ⳿ⲛⲧⲉ ϯⲡⲟⲗⲓⲥ ⳿ⲉⲟⲩⲟⲛ ⲓ̅ⲃ̅ ⳿ⲛⲥⲉⲛϯ ⳿ⲙⲙⲟϥ ⲟⲩⲟϩ ⲉⲩ⳿ⲥϧⲏⲟⲩⲧ ϩⲓⲱⲧⲟⲩ ⳿ⲛϫⲉ ⳿ⲫⲣⲁⲛ ⳿ⲙⲡⲓⲓ̅ⲃ̅ ⳿ⲛⲁⲡⲟⲥⲧⲟⲗⲟⲥ ⳿ⲛⲧⲉ ⲡⲓϩⲓⲏⲃ.
14Còn tường của thành có mười hai cái nền, tại trên có đề mười hai danh, là danh mười hai sứ đồ của Chiên Con.
15ⲟⲩⲟϩ ⲫⲏⲉⲧⲥⲁϫⲓ ⲛⲉⲙⲏⲓ ⳿ⲉⲟⲩⲟⲛ ⲟⲩⲕⲁϣ ⳿ⲛⲛⲟⲩⲃ ⳿ⲛⲧⲟⲧϥ ϩⲓⲛⲁ ⳿ⲛⲧⲉϥϣⲓ ⳿ⲛϯ ⲃⲁⲕⲓ ⲛⲉⲙ ⲛⲉⲥ⳿ϣⲑⲟⲙ ⲛⲉⲙ ⲛⲉⲥⲥⲟⲃⲧ.
15Đấng nói cùng ta tay cầm một cái thước, tức là cây sậy bằng vàng để đo thành, các cửa và tường của thành.
16ⲟⲩⲟϩ ϯⲃⲁⲕⲓ ⲛⲉ ⲟⲩⲧⲉⲧⲣⲁⲅⲱⲛⲟⲛ ⲧⲉ ⲟⲩⲟϩ ⳿ⲙ⳿ⲫⲣⲏϯ ⳿ⲛⲧⲉⲥϣⲓⲏ ⲡⲁⲓⲣⲏϯ ⲟⲛ ⲡⲉ ⲧⲉⲥⲟⲩⲏϣⲥⲓ ⲟⲩⲟϩ ⲁϥϣⲓ ⳿ⲛϯⲃⲁⲕⲓ ⲁϥϫⲉⲙⲥ ⲉⲥⲟⲓ ⳿ⲙⲓ̅ⲃ̅ ⳿ⲛϣⲟ ⳿ⲛ⳿ⲥⲧⲁⲇⲓⲟⲛ ⳿ⲛϣⲓⲏ ⲛⲉⲙ ⲧⲉⲥⲟⲩⲏ ϣⲥⲓ ⲛⲉⲙ ⲡⲉⲥϭⲓⲥⲓ ⲉⲩⲟⲓ ⳿ⲛⲟⲩϩⲩⲥⲟⲥ.
16Thành làm kiểu vuông và bề dài cùng bề ngang bằng nhau. Thiên sứ đo thành bằng cây sậy: thành được một vạn hai ngàn ếch-ta-đơ; bề dài, bề ngang, và bề cao cũng bằng nhau.
17ⲟⲩⲟϩ ⲁⲩϣⲓ ⳿ⲙⲡⲉⲥⲥⲟⲃⲧ ⲁⲩϫⲉⲙϥ ⲉϥ⳿ⲓⲣⲓ ⳿ⲛⲣ̅ⲙ̅ⲇ̅ ⳿ⲛϣⲟ ⳿ⲡϣⲓ ⳿ⲛⲟⲩⲣⲱⲙⲓ ⲉⲧⲉ ⲫⲁ ⲟⲩⲁⲅⲅⲉⲗⲟⲥ ⲡⲉ.
17Người lại đo tường thành: được một trăm bốn mươi bốn cu-đê, là thước đo của loài người, và cũng là thước đo của thiên sứ.
18ⲟⲩⲟϩ ⳿ⲡⲕⲱϯ ⳿ⲙⲡⲓⲥⲟⲃⲧ ϯϩⲓⲟⲩ⳿ⲓ ⳿ⲛⲥⲉⲛϯ ⲛⲁⲥⲟⲓ ⳿ⲙ⳿ⲫⲣⲏϯ ⳿ⲛⲟⲩⲓⲁⲥⲡⲓⲥ ⲡⲉ ⲟⲩⲟϩ ϯⲃⲁⲕⲓ ⲛⲁⲥⲟⲓ ⲡⲉ ⳿ⲛⲓⲉⲃ ⳿ⲛⲛⲟⲩⲃ ⲉϥⲟⲩⲁⲃ ⳿ⲙ⳿ⲫⲣⲏϯ ⳿ⲛⲟⲩⲃⲁϫⲏⲓⲛⲓ ⲉϥⲟⲩⲁⲃ.
18Tường thì xây bằng bính ngọc, thành thì xây bằng vàng ròng, tợ như thủy tinh trong vắt.
19ⲟⲩⲟϩ ⲛⲓⲥⲉⲛϯ ⳿ⲛⲧⲉ ⲡⲓⲥⲟⲃⲧ ⳿ⲛⲧⲉ ϯⲃⲁⲕⲓ ⲉⲩⲕⲏⲧ ⳿ⲉⲃⲟⲗ ϧⲉⲛ ⲱⲛⲓ ⲛⲓⲃⲉⲛ ⲉⲧⲧⲁⲓⲏ ⲟⲩⲧ ϯⲥⲉⲛϯ ⳿ⲛϩⲟⲩⲓϯ ⲛⲉ ⲟⲩⲓⲁⲥⲡⲓⲥ ⲧⲉ ϯⲙⲁϩⲃ̅ϯ ⲟⲩⲥⲁⲡⲫⲓⲣⲟⲥ ⲧⲉ ϯⲙⲁϩⲅ̅ϯ ⲟⲩⲕⲁⲣⲭⲏ ⲇⲱⲛ ⲧⲉ ϯⲙⲁϩⲇ̅ ⲟⲩ⳿ⲥⲙⲁⲣⲁⲕⲇⲟⲥ.
19Những nền tường thành thì trang sức đủ thứ ngọc. Nền thứ nhất, bằng bích ngọc; nền thứ nhì, bằng đá lam bửu; nền thứ ba, bằng lục mã não; nền thứ tư, bằng đá lục cẩm;
20ϯⲙⲁϩⲉ̅ ⲟⲩⲥⲁⲣⲇⲟⲛⲓⲝ ϯⲙⲁϩⲋ̅ ⲟⲩⲥⲁⲣⲇⲓⲛⲟⲛ ϯⲙⲁϩⲍ̅ ⲟⲩ⳿ⲭⲣⲓⲥⲟⲗⲓⲛⲑⲟⲛⲥ ϯ ⲙⲁϩⲏ̅ ⲟⲩⲃⲩⲣⲓⲗⲗⲟⲥ ϯⲙⲁϩϧ̅ϯ ⲟⲩⲇⲟⲡⲁⲧⲓⲟⲛ ϯⲙⲁϩⲓ̅ϯ ⲟⲩϩⲩⲁⲕⲩⲛⲑⲓⲛⲟⲛ ϯⲙⲁϩⲓ̅ⲁ̅ ⲟⲩⲕⲩⲥⲟⲡⲁⲣⲁⲥⲟⲥ ϯⲙⲁϩⲓ̅ⲃ̅ ⲟⲩⲁⲙⲉⲑⲓⲧⲟⲥ.
20nền thứ năm, bằng hồng mã não; nền thứ sáu, bằng đá hoàng ngọc; nền thứ bảy bằng ngọc hoàng bích, nền thứ tám, bằng ngọc thủy thương; nền thứ chín, bằng ngọc hồng bích; nền thứ mười, bằng ngọc phỉ túy; nền thứ mười một, bằng đá hồng bửu; nền thứ mười hai, bằng đá tử bửu.
21ⲟⲩⲟϩ ⲡⲓⲓ̅ⲃ̅ ⳿ⲙⲡⲩⲗⲱⲛ ⳿ⲙⲙⲁⲣⲅⲁⲣⲓⲧⲏ ⲥ ⳿ⲛⲟⲩⲁⲓ ⳿ⲛⲟⲩⲁⲓ ⲟⲩⲟϩ ⲡⲓ⳿ϣⲑⲉϩ ⳿ⲛⲧⲉ ϯ ⲃⲁⲕⲓ ⲟⲩⲛⲟⲩⲃ ⲉϥⲟⲩⲁⲃ ⲡⲉ ⳿ⲙ⳿ⲫⲣⲏϯ ⳿ⲛⲟⲩⲁⲃⲁϫⲏ ⲓⲛⲓ ⲉϥⲉⲣⲟⲩⲱⲓⲛⲓ.
21Mười hai cửa thì làm bằng mười hai hột châu; mỗi cửa bằng một hột châu nguyên khối làm thành. Đường trong thành làm bằng vàng ròng, giống như thủy tinh trong suốt.
22ⲟⲩⲟϩ ⳿ⲙⲡⲓⲛⲁⲩ ⳿ⲉⲉⲣⲫⲉⲓ ⳿ⲛϧⲏⲧⲥ Ⲡ⳪ ⲅⲁⲣ ⲫϯ ⲡⲓⲡⲁⲛⲧⲟⲕⲣⲁⲧⲱⲣ ⲡⲉ ⲡⲉⲥⲉⲣⲫⲉⲓ ⲛⲉⲙ ⲡⲓϩⲓⲏⲃ.
22ỳ đó, tôi không thấy đền thờ nào; vì Chúa là Đức Chúa Trời toàn năng và Chiên Con đều là đền thờ của thành.
23ⲟⲩⲟϩ ϯⲃⲁⲕⲓ ⲛⲁⲥⲉⲣ⳿ⲛⲭⲣⲓⲁ ⳿ⲙ⳿ⲫⲣⲏ ⲁⲛ ⲡⲉ ⲟⲩⲇⲉ ⲡⲓⲓⲟϩ ϩⲓⲛⲁ ⳿ⲛⲧⲟⲩⲉⲣⲟⲩⲱⲓⲛⲓ ⳿ⲛϧⲏⲧⲥ ⳿ⲡⲱⲟⲩ ⲅⲁⲣ ⳿ⲙⲫϯ ⲁϥⲉⲣⲟⲩⲱⲓⲛⲓ ⳿ⲉⲣⲟⲥ ⲟⲩⲟϩ ⲡⲉⲥϧⲏⲃⲥ ⲡⲉ ⲡⲓϩⲓⲏⲃ.
23Thành cũng không cần mặt trời, mặt trăng để soi sáng; vì vinh hiển của Đức Chúa Trời chói lói cho, và Chiên Con là ngọn đèn của thành.
24ⲟⲩⲟϩ ⲉⲩ⳿ⲉⲙⲟϣⲓ ⳿ⲉⲃⲟⲗ ϧⲉⲛ ⲡⲉⲥⲟⲩⲱⲓⲛⲓ ⳿ⲛϫⲉ ⲛⲓⲉⲑⲛⲟⲥ ⲛⲉⲙ ⲛⲓⲟⲩⲣⲱⲟⲩ ⳿ⲛⲧⲉ ⳿ⲡⲕⲁϩⲓ ⲉⲩ⳿ⲉ⳿ⲓⲛⲓ ⳿ⲙ⳿ⲡⲱⲟⲩ ⳿ⲛⲛⲓⲉⲑⲛⲟⲥ ⲛⲉⲙ ϯ ⲧⲓⲙⲏ ⳿ⲉϧⲟⲩⲛ ⳿ⲉⲣⲟⲥ.
24Các dân sẽ đi giữa sự sáng thành đó và các vua trên đất sẽ đem vinh hiển mình vào đó.
25ⲟⲩⲟϩ ⲛⲉⲥⲡⲩⲗⲱⲛ ⳿ⲛⲛⲟⲩ⳿ϣⲑⲁⲙ ⳿ⲙⲡⲓ⳿ⲉϩⲟⲟⲩ ⲟⲩⲟϩ ⳿ⲛⲛⲉ ⳿ⲉϫⲱⲣϩ ϣⲱⲡⲓ ⳿ⲙⲙⲁⲩ.
25Những cửa thành ban ngày không đóng, vì ở đó không có ban đêm.
26ⲉⲩ⳿ⲉ⳿ⲓ ⳿ⲛϫⲉ ⲛⲓⲉⲑⲛⲟⲥ ⲛⲉⲙ ⲡⲟⲩⲱⲟⲩ ⲛⲉⲙ ⲡⲟⲩⲧⲁⲓ⳿ⲟ ⳿ⲉϧⲟⲩⲛ ⳿ⲉⲣⲟⲥ.
26Người ta sẽ đem vinh hiển và phú quí của các dân đến đó;
27⳿ⲛⲛⲉ ⳿ϩⲗⲓ ⲉϥⲥⲱϥ ϣⲉ ⳿ⲉϧⲟⲩⲛ ⳿ⲉⲣⲟⲥ ⲛⲉⲙ ⲛⲏⲉⲧ⳿⳿ⲓⲣⲓ ⳿ⲛϩⲁⲛⲥⲱϥ ⳿ⲛⲛⲉ ⲙⲉⲑⲛⲟⲩϫ ⳿ⲓ ⳿ⲉϧⲟⲩⲛ ⳿ⲉⲣⲟⲥ ⳿ⲉⲃⲏⲗ ⳿ⲉⲛⲏⲉⲧ⳿ⲥϧⲏⲟⲩⲧ ϩⲓ ⲡⲓϫⲱⲙ ⳿ⲛⲧⲉ ⳿ⲡⲱⲛϧ ⳿ⲛⲧⲉ ⲡⲓϩⲓⲏⲃ
27kẻ ô uế, người làm điều gớm ghiếc và nói dối không hề được vào thành; nhưng chỉ có những kẻ đã biên tên trong sách sự sống của Chiên Con.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.