Dân 14
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Bíblia Portuguesa Mundial (Brazilian Portuguese)
1Cả hội chúng bèn cất tiếng la lên, và dân sự khóc lóc trong đêm đó.
1Toda a congregação levantou a sua voz e gritou; e o povo chorou naquela noite.
2Hết thảy dân Y-sơ-ra-ên lằm bằm cùng Môi-se và A-rôn; cả hội chúng nói cùng hai người rằng: Chớ chi chúng tôi đã chết trong xứ Ê-díp-tô, hay là đã chết trong đồng vắng nầy!
2Todos os filhos de Israel murmuraram contra Moisés e contra Arão. Toda a congregação lhes disse: “Quem dera tivéssemos morrido na terra do Egito, ou que tivéssemos morrido neste deserto!
3Vì cớ nào Đức Giê-hô-va dẫn chúng tôi vào xứ nầy đặng bị gươm mà ngã? Vợ và con nhỏ chúng tôi sẽ bị làm một miếng mồi. Về phần chúng tôi, há chẳng khá trở về xứ Ê-díp-tô hơn sao?
3Por que o SENHOR nos traz a esta terra, para cairmos à espada? Nossas esposas e nossas crianças serão capturadas ou mortas! Não seria melhor para nós voltarmos para o Egito?”
4Rồi dân sự nói với nhau rằng: Chúng ta hãy lập lên một quan trưởng, và trở về xứ Ê-díp-tô đi.
4Eles disseram uns aos outros: “Vamos escolher um líder e voltar para o Egito.”
5Môi-se và A-rôn bèn sấp mình xuống trước mặt cả hội dân Y-sơ-ra-ên.
5Então Moisés e Arão caíram com o rosto em terra diante de toda a assembleia da congregação dos filhos de Israel.
6Giô-suê, con trai của Nun, và Ca-lép, con trai của Giê-phu-nê, là hai người trong bọn đi do thám xứ, bèn xé quần áo mình.
6Josué, filho de Num, e Calebe, filho de Jefoné, que eram dos que espiaram a terra, rasgaram as suas roupas.
7Hai người nói cùng cả hội dân Y-sơ-ra-ên rằng: Xứ mà chúng tôi đã đi khắp đặng do thám thật là một xứ rất tốt;
7Eles falaram a toda a congregação dos filhos de Israel, dizendo: “A terra pela qual passamos para espiar é uma terra muitíssimo boa.
8nếu Đức Giê-hô-va đẹp lòng cùng chúng ta, ắt sẽ đem chúng ta vào xứ nầy mà ban cho; ấy là một xứ đượm sữa và mật.
8Se o SENHOR se agradar de nós, então ele nos fará entrar nesta terra e a dará a nós: uma terra que mana leite e mel.
9Chỉ các ngươi chớ dấy loạn cùng Đức Giê-hô-va, và đừng sợ dân của xứ, vì dân đó sẽ là đồ nuôi chúng ta, bóng che chở họ đã rút đi khỏi họ rồi, và Đức Giê-hô-va ở cùng ta. Chớ sợ chi.
9Tão somente não se rebelem contra o SENHOR, nem tenham medo do povo da terra; pois eles são como pão para nós. A proteção deles foi removida, e o SENHOR está conosco. Não tenham medo deles.”
10Bấy giờ cả hội chúng nói ném đá hai người nầy, nhưng sự vinh quang của Đức Giê-hô-va hiện ra trên hội mạc, trước mặt dân Y-sơ-ra-ên.
10Mas toda a congregação ameaçou apedrejá-los. A glória do SENHOR apareceu na Tenda do Encontro a todos os filhos de Israel.
11Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Dân nầy khinh ta và không tin ta cho đến chừng nào, mặc dầu các phép lạ ta làm giữa chúng nó?
11O SENHOR disse a Moisés: “Até quando este povo me desprezará? Até quando não crerão em mim, apesar de todos os sinais que realizei no meio deles?
12Ta sẽ giáng cho dân sự nầy dịch lệ và tiêu diệt phần cơ nghiệp của nó đi; nhưng ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn hơn và mạnh hơn nó.
12Eu os ferirei com pestilência e os deserdarei, e farei de você uma nação maior e mais poderosa do que eles.”
13Môi-se thưa cùng Đức Giê-hô-va rằng: Dân Ê-díp-tô có hay rằng Chúa cậy quyền năng Chúa đem dân nầy ra khỏi họ;
13Moisés disse ao SENHOR: “Então os egípcios ouvirão isso; pois tu fizeste subir este povo do meio deles com o teu poder.
14và có thuật điều đó cho dân xứ nầy. Oâi Đức Giê-hô-va! người ta biết rằng Chúa ngự giữa dân nầy, Chúa hiện ra cho mắt chúng thấy, trụ mây Chúa ở trên dân nầy, và Chúa đi trước, ban ngày trong một trụ mây, ban đêm trong một trụ lửa.
14Eles contarão isso aos habitantes desta terra. Eles ouviram que tu, SENHOR, estás no meio deste povo; pois tu, SENHOR, és visto face a face, e a tua nuvem paira sobre eles, e tu vais adiante deles, numa coluna de nuvem de dia, e numa coluna de fogo de noite.
15Nếu Chúa giết hết dân nầy như thể giết một người, thì các nước đã nghe nói về Chúa sẽ nói rằng:
15Agora, se matares este povo como se fosse um só homem, então as nações que ouviram a tua fama falarão, dizendo:
16Đức Giê-hô-va không thể dẫn dân nầy vào xứ mà Ngài đã thề ban cho; bởi cớ đó, Ngài giết chết chúng nó trong đồng vắng.
16'Porque o SENHOR não foi capaz de introduzir este povo na terra que lhes jurou, por isso ele os matou no deserto.'
17Vả, bây giờ, tôi xin quyền năng của Chúa hiện ra cách oai nghiêm như Chúa đã nói rằng:
17Agora, por favor, que o poder do Senhor seja grande, conforme falaste, dizendo:
18Đức Giê-hô-va vốn chậm nóng giận và đầy ơn; hay xá điều gian ác và tội lỗi; nhưng không kể kẻ có tội là vô tội, và nhơn tội tổ phụ phạt con cháu trải ba bốn đời.
18'O SENHOR é lento para se irar e abundante em misericórdia, perdoando a iniquidade e a desobediência; e de forma alguma terá por inocente o culpado, visitando a iniquidade dos pais nos filhos, na terceira e na quarta geração.'
19Tôi xin Chúa tha tội gian ác của dân nầy tùy theo ơn lớn của Chúa, như Chúa đã tha từ xứ Ê-díp-tô đến đây.
19Por favor, perdoa a iniquidade deste povo segundo a grandeza da tua misericórdia, e assim como tens perdoado a este povo, desde o Egito até agora.”
20Đức Giê-hô-va đáp rằng: Ta đã tha như lời ngươi xin.
20O SENHOR disse: “Eu os perdoei, conforme a sua palavra;
21Nhưng ta chỉ sự hằng sống ta mà quả quyết rằng, sự vinh quang của Đức Giê-hô-va sẽ đầy dẫy khắp trái đất!
21mas, na verdade — tão certo como eu vivo, e como toda a terra se encherá da glória do SENHOR —
22Trong mọi người đã thấy sự vinh quang ta, phép lạ ta đã làm tại xứ Ê-díp-tô và nơi đồng vắng, là các ngươi đã thử ta mười lần và đã không nghe lời ta,
22porque todos aqueles homens que viram a minha glória e os meus sinais, que realizei no Egito e no deserto, e ainda assim me tentaram estas dez vezes, e não deram ouvidos à minha voz;
23thì chẳng một ai sẽ thấy xứ mà ta thề hứa cho tổ phụ chúng nó. Chẳng ai mà đã khinh ta sẽ thấy xứ đó đâu!
23certamente não verão a terra que jurei aos seus pais, e nenhum daqueles que me desprezaram a verá.
24Nhưng vì kẻ tôi tớ Ca-lép ta không đồng lòng cùng chúng nó, theo ta một cách trung tín, thì ta sẽ đem người vào xứ mà người đã có đi, và dòng dõi người sẽ được xứ làm sản nghiệp.
24Mas o meu servo Calebe, porque teve outro espírito nele, e me seguiu totalmente, eu o introduzirei na terra em que ele entrou. A sua descendência a possuirá.
25Dân A-ma-léc và dân Ca-na-an ở trong trũng; ngày mai các ngươi hãy trở lui lại sau, đi đến đồng vắng về hướng Biển đỏ.
25Visto que os amalequitas e os cananeus habitam no vale, amanhã deem meia-volta e partam para o deserto pelo caminho do Mar Vermelho.”
26Đức Giê-hô-va cũng phán cùng Môi-se và A-rôn, mà rằng:
26O SENHOR falou a Moisés e a Arão, dizendo:
27Ta sẽ chịu hội chúng hung dữ nầy hay lằm bằm cùng ta cho đến chừng nào? Ta đã nghe lời lằm bằm của dân Y-sơ-ra-ên oán trách ta.
27“Até quando suportarei esta má congregação que murmura contra mim? Tenho ouvido as murmurações dos filhos de Israel, que eles proferem contra mim.
28Hãy nói với dân chúng: Đức Giê-hô-va nói rằng: Ta chỉ sự hằng-sống ta mà thề, ta sẽ đãi các ngươi tùy theo lời ta đã nghe các ngươi nói;
28Diga-lhes: 'Tão certo como eu vivo, diz o SENHOR, certamente farei a vocês assim como falaram aos meus ouvidos.
29những thây các ngươi sẽ ngã nằm trong đồng vắng nầy. Các ngươi mà người ta đã tu bộ, hết thảy bao nhiêu cũng vậy, từ hai mươi tuổi sắp lên, là những kẻ đã lằm bằm cùng ta,
29Os seus cadáveres cairão neste deserto; e todos os que foram contados de vocês, segundo todo o seu número, de vinte anos para cima, que murmuraram contra mim,
30thì chẳng hề được vào xứ mà ta đã thề cho các ngươi ở, ngoại trừ Ca-lép, con trai của Giê-phu-nê, và Giô-suê, con trai của Nun.
30certamente vocês não entrarão na terra a respeito da qual jurei que os faria habitar nela, exceto Calebe, filho de Jefoné, e Josué, filho de Num.
31Nhưng ta sẽ đem vào xứ những con trẻ của các ngươi mà các ngươi có nói rằng: Chúng nó sẽ bị làm một miếng mồi; rồi chúng nó sẽ biết xứ các ngươi đã chê bai.
31Mas eu introduzirei as suas crianças, que vocês disseram que seriam capturadas ou mortas, e elas conhecerão a terra que vocês rejeitaram.
32Còn những thây các ngươi sẽ ngã nằm trong đồng vắng nầy.
32Mas, quanto a vocês, os seus cadáveres cairão neste deserto.
33Con cái các ngươi sẽ chăn chiên nơi đồng vắng trong bốn mươi năm, và sẽ mang hình phạt vì tội thông dâm của các ngươi, cho đến chừng nào thây của các ngươi đã ngã rạp hết trong đồng vắng.
33Os seus filhos serão peregrinos no deserto por quarenta anos, e levarão sobre si a prostituição de vocês, até que os seus cadáveres sejam consumidos no deserto.
34Các ngươi đi do thám xứ bao nhiêu ngày, nghĩa là bốn mươi ngày, thì các ngươi cũng sẽ mang hình phạt vì tội gian ác mình bấy nhiêu năm, nghĩa là bốn mươi năm, một năm đền cho một ngày; bấy giờ các ngươi sẽ biết ta đã xây khỏi các ngươi.
34Segundo o número dos dias em que espiaram a terra, ou seja, quarenta dias, para cada dia um ano, vocês levarão sobre si as suas iniquidades, por quarenta anos, e conhecerão a minha oposição.'
35Ta, Đức Giê-hô-va, đã phán: Ta sẽ làm điều nầy cho cả hội chúng hung dữ nầy đã hiệp lại nghịch cùng ta; chúng nó sẽ bị hao mòn và chết tại trong đồng vắng nầy.
35Eu, o SENHOR, falei. Certamente farei isso a toda esta má congregação que se reuniu contra mim. Neste deserto eles serão consumidos, e aqui morrerão.”
36Những người mà Môi-se đã sai đi do thám xứ, khi trở về có xui cho cả hội chúng lằm bằm cùng Môi-se,
36Os homens que Moisés enviou para espiar a terra, que voltaram e fizeram toda a congregação murmurar contra ele, trazendo um mau relatório sobre a terra,
37và có phao phản xứ, những người nầy đều bị một tai vạ hành chết trước mặt Đức Giê-hô-va.
37esses mesmos homens que trouxeram um mau relatório da terra morreram de praga perante o SENHOR.
38Nhưng trong bọn người đi do thám xứ, chỉ có Giô-suê, con trai của Nun, và Ca-lép, con trai của Giê-phu-nê, còn sống được.
38Mas Josué, filho de Num, e Calebe, filho de Jefoné, permaneceram vivos dentre aqueles homens que foram espiar a terra.
39Môi-se thuật lại những lời nầy cho cả dân Y-sơ-ra-ên; rồi có một sự thảm sầu rất lớn trong dân sự.
39Moisés falou estas palavras a todos os filhos de Israel, e o povo lamentou profundamente.
40Đoạn, dân sự dậy sớm đi lên chót núi mà nói rằng: Chúng tôi đây sẽ đi lên tới chỗ Đức Giê-hô-va đã phán-hứa, vì chúng tôi có phạm tội.
40Eles se levantaram de madrugada e subiram ao topo do monte, dizendo: “Eis-nos aqui, e subiremos ao lugar que o SENHOR prometeu; pois nós pecamos.”
41Song Môi-se nói rằng: Sao các ngươi trái mạng Đức Giê-hô-va? Sự đó sẽ chẳng may mắn đâu.
41Moisés disse: “Por que agora vocês desobedecem ao mandamento do SENHOR, visto que isso não prosperará?
42Chớ đi lên đó, e các ngươi bị quân nghịch đánh bại chăng; vì Đức Giê-hô-va không còn ở giữa các ngươi nữa.
42Não subam, pois o SENHOR não está no meio de vocês; para que não sejam derrotados diante dos seus inimigos.
43Kìa, dân A-ma-léc và dân Ca-na-an ở đằng trước các ngươi, các ngươi sẽ bị gươm ngã rạp, bởi vì đã bội nghịch cùng Đức Giê-hô-va, Đức Giê-hô-va sẽ không ở cùng các ngươi.
43Pois ali os amalequitas e os cananeus estão diante de vocês, e vocês cairão à espada porque deixaram de seguir o SENHOR; portanto, o SENHOR não estará com vocês.”
44Nhưng dân sự cố ý đi lên chót núi; còn hòm giao ước của Đức Giê-hô-va và Môi-se không đi ra khỏi trại quân.
44Mas eles se atreveram a subir ao topo do monte. No entanto, a arca da aliança do SENHOR e Moisés não se afastaram do acampamento.
45Dân A-ma-léc và dân Ca-na-an ở trong núi nầy đổ xuống, đánh bại và phân thây dân Y-sơ-ra-ên cho đến Họt-ma.
45Então os amalequitas e os cananeus que habitavam naquele monte desceram, e os atacaram, e os derrotaram até Horma.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.