Giôs 7
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Song dân Y-sơ-ra-ên có phạm một tội về vật đáng diệt; vì A-can, con trai của Cạt-mi, cháu của Xáp-đi, chắt của Xê-rách về chi phái Giu-đa, có lấy vật đáng diệt và cơn giận của Đức Giê-hô-va nổi phừng lên cùng dân Y-sơ-ra-ên.
1LAWE hala iho la na mamo a Iseraela ma ka mea laa; no ka mea, o Akana, ke keiki a Karemi, ke keiki a Zabedi, ke keiki a Zera, no ka ohana o Iuda, lalau aku la ia i ka mea laa, alaila, wela iho la ka inaina o Iehova i na mamo a Iseraela.
2ỳ Giê-ri-cô Giô-suê sai người đến thành A-hi gần Bết-A-ven, về phía đông Bê-tên, và truyền lịnh này rằng: Hãy đi lên do thám xứ. Vậy, các người ấy đi lên do thám thành A-hi.
2Hoouna aku la o Iosua i mau kanaka, mai Ieriko aku a Ai, ma ke alo o Betavena, ma ka hikina o Betela, olelo aku la ia lakou, i aku la, O pii oukou, a e makai i ka aina. Pii aku la ua mau kanaka la, makai iho la ia Ai.
3Đoạn trở về cùng Giô-suê mà rằng: Lấy làm vô ích đem cả dân sự đi lên đó; nhưng hãy cho chừng vài ba ngàn người đi lên đó mà đánh thành A-hi. Chớ làm cho mệt nhọc cả dân chúng đi đó; vì người A-hi ít quá.
3Hoi mai la lakou ia Iosua, olelo mai ia ia, Mai pii aku na kanaka a pau. Elua tausani kanaka e pii. ekolu paha, a e luku ia Ai, mai hookaumaha i na kanaka a pau malaila, no ka mea, ua uuku lakou.
4Vậy, có chừng ba ngàn người đi lên đó; nhưng họ chạy trốn trước mặt người A-hi.
4Pii aku la ilaila, ekolu tausani kanaka o lakou; a hee iho la lakou imua o na kanaka o Ai.
5Người A-hi giết chừng ba mươi sáu người, rượt theo họ từ cửa thành cho đến Sê-ba-rim, và đánh họ lúc đi xuống dốc. Lòng dân sự bèn tan ra như nước.
5Pepehi mai la na kanaka o Ai i kanakolukumamaono o lakou; a hahai ia lakou mai ka puka mai a hiki i Sebarima, a i ka iho ana, pepehi mai la lakou. Maule iho la ka naau o kanaka, a lilo iho la i mea e like me ka wai.
6Giô-suê bèn xé áo mình, rồi người và các trưởng lão Y-sơ-ra-ên sấp mặt xuống đất trước hòm của Đức Giê-hô-va cho đến chiều tối, và vải bụi đất trên đầu mình.
6Haehae iho la o Iosua i kona aahu, moe iho la kona alo ilalo i ka lepo imua o ka pahu o Iehova, i ke ahiahi, oia, a me na lunakahiko o ka Iseraela, kau ae la i ka lepo maluna o ko lakou poo iho.
7Giô-suê nói: Oâi! Chúa Giê-hô-va, sao Ngài đem dân này qua sông Giô-đanh đặng phó chúng tôi vào tay dân A-mô-rít mà làm cho diệt đi? Oâi! chớ chi chúng tôi chọn phần ở lại bên kia sông Giô-đanh!
7Olelo aku la o Iosua, Auwe, e Iehova, e ka Haku e! No ke aha la oe i lawe iki mai ai i keia poe kanaka, ma keia aoao o Ioredane, e haawi ia makou i ka lima o ka Amora, e make ai makoa? E aho i oluolu makou, e noho ma kela aoao o Ioredane!
8Than ôi! hỡi Chúa, sau khi Y-sơ-ra-ên đã xây lưng trước mặt kẻ thù nghịch mình, tôi còn nói làm sao?
8E ko'u Haku, heaha la ka'u e olelo aku ai, i ka wa e huli ai ka Iseraela i ko lakou kua i na enemi o lakou!
9Dân Ca-na-an và cả dân ở xứ này sẽ hay điều đó, sẽ vây chúng tôi, và diệt danh chúng tôi khỏi đất; rồi Chúa sẽ làm sao cho danh lớn Chúa?
9E lohe auanei ko Kanaana, a me ka poe a pau e noho la ma ka aina, a e hoopuni mai lakou ia makou, a e hooki loa lakou i ko makou inoa, mai ka honua aku. Pehea la oe e hana'i i kou inoa nui?
10Bấy giờ, Đức Giê-hô-va phán cùng Giô-suê rằng: Hãy đứng dậy; sao ngươi sấp mặt xuống đất như vậy?
10Olelo mai la o Iehova ia Iosua, E ku mai oe iluna. Heaha la kau e moe nei ilalo ke alo?
11Y-sơ-ra-ên có phạm tội; chúng nó bội nghịch giao ước ta đã truyền cho đến nỗi dám lấy vật đáng diệt, ăn cắp vật đó, làm dối trá, và để trong bao mình.
11Ua lawehala ka Iseraela, ua ae hoi lakou maluna o ka'u berita, a'u i kauoha aku ai ia lakou, a ua lawe hoi lakou i ka mea laa, a ua aihue a ua hoopunipuni hoi, a ua waiho pu no hoi ia mea me ko lakou mea iho.
12Bởi cớ đó, dân Y-sơ-ra-ên không thế chống cự nổi trước mặt kẻ thù nghịch mình, phải xây lưng trước mặt chúng nó, vì Y-sơ-ra-ên đã trở nên kẻ bị rủa sả. Nếu các ngươi không cất khỏi giữa mình vật đáng diệt ấy, thì ta không còn ở cùng các ngươi nữa.
12Nolaila, aole hiki i na mamo a Iseraela, ke ku imua o ko lakou poe enemi, ua huli lakou i ko lakou kua i na enemi o lakou, no ka mea, ua laa lakou; aole loa hoi au e noho pu hou me oukou, ke hoopau ole oukou ia mea laa mai o oukou aku.
13Hãy đứng dậy làm cho dân sự nên thánh, và hãy nói rằng: Các ngươi khá làm cho mình nên thánh về ngày mai; vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên có phán như vầy: Hỡi Y-sơ-ra-ên, ngươi có vật đáng diệt tại giữa ngươi! ngươi không thế chống cự nổi trước mặt kẻ thù nghịch mình cho đến chừng nào các ngươi đã cất khỏi giữa mình vật đáng diệt ấy.
13E ku iluna, a e hoomaemae i kanaka, a e olelo aku, E hoomaemae oukou ia oukou iho, no ka la apopo; no ka mea, ke i mai nei o Iehova, ke Akua o ka Iseraela penei, He mea laa iwaena pono o oukou, e ka Iseraela; aole oukou e hiki ke ku imua o ko oukou enemi a kipaku oukou i kela mea laa, mai o oukou aku.
14Vậy, sáng mai các ngươi sẽ đi đến gần từng chi phái; chi phái nào mà Đức Giê-hô-va chỉ ra sẽ đến gần từng họ hàng; họ hàng nào mà Đức Giê-hô-va chỉ ra sẽ đến gần từng nhà; nhà nào mà Đức Giê-hô-va chỉ ra sẽ đến gần từng người.
14I ke kakahiaka, e nee mai oukou ma ko oukou ohana; a o ka ohana a Iehova e lawe ai, e neenee mai lakou ma ko lakou hale; a o ka hale a Iehova e lawe ai, e nee mai lakou ma ko lakou ohua; a o ko ka ohua a Iehova e lawe ai, e nee pakahi mai na kanaka.
15Người nào bị chỉ ra là kẻ có của đáng diệt đó, sẽ bị thiêu nơi lửa, cùng các món thuộc về người; vì người đã bội giao ước của Đức Giê-hô-va, và phạm sự xấu hổ trong Y-sơ-ra-ên.
15Eia hoi ka hope, O ka mea e loaa me ka mea laa, e puhiia oia i ke ahi, oia, a me kona mea a pau; no ka mea, ua ae oia maluna o ka berita o Iehova, a ua hana i ka mea lapuwale mawaena o ka Iseraela.
16Vậy, Giô-suê dậy sớm, biểu Y-sơ-ra-ên đến gần từng chi phái; và chi phái Giu-đa bị chỉ ra.
16Ala mai la o Iosua i ke kakahiaka, a alakai mai la i ka Iseraela ma ko lakou ohana, a ua laweia ka ohana a Iuda:
17Đoạn, người biểu các họ hàng Giu-đa đến gần; và họ hàng Xê-rách bị chỉ ra. Đoạn, người biểu họ hàng Xê-rách lại gần từng gia trưởng; và Xáp-đi bị chỉ ra.
17Alakai mai la ia i ka ohana a Iuda, a laweia iho la ka hale a Zara. A alakai mai la ia i ka hale a Zara, pakahi ke kanaka, a ua laweia o Zabedi:
18Người biểu nhà Xáp-đi đến gần từng người; thì A-can, con trai của Cạt-ni, cháu của Xáp-đi, bị chỉ ra.
18Alakai pakahi mai la ia i ko kana ohana, a ua laweia o Akana, ke keiki a Karemi, ke keiki a Zabedi, ke keiki a Zera, no ka ohana a Iuda.
19Giô-suê bèn nói cùng A-can rằng: Hỡi con, xin hãy tôn vinh Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, và ngợi khen Ngài; hãy thú thật cho ta điều con đã làm, chớ giấu chút nào.
19Olelo mai la o Iosua ia Akana, E kuu keiki, e hoomaikai aku oe ia Iehova, i ke Akua o ka Iseraela, a e hai maopopo aku ia ia, a e hoike mai ia'u i ka mea au i hana'i. Mai huna ia'u.
20A-can thưa cùng Giô-suê rằng: Phải, tôi đã phạm tội cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, và này là điều tôi đã làm:
20Pane aku la o Akana ia Iosua, i aku la, Oiaio no, ua hana hewa wau ia. Iehova i ke Akua o ka Iseraela, a penei no hoi ka'u i hana aku ai:
21Tôi có thấy trong của cướp một cái áo choàng Si-nê-a tốt đẹp, hai trăm siếc lơ bạc, và một ném vàng nặng năm mươi siếc lơ; tôi tham muốn các món đó, và lấy nó; kìa, các vật ấy đã giấu dưới đất giữa trại tôi, còn bạc thì ở dưới.
21I ko'u ike ana aku maloko o ka waiwai pio, he aahu maikai no Babulona, a elua haneri paha sekela kala, a me kekahi auka gula, he kanalima sekela, kuko iho la au, a lawe no; a ua hunaia ma ka lepo maloko o ko'u halelewa, a aia ke kala malalo iho o ia mea.
22Giô-suê bèn sai người chạy đến trại, thấy áo choàng giấu tại đó, và bạc thì ở dưới.
22Hoouna aku la o Iosua i mau elele, a holo kiki lakou i ka halelewa; aia hoi, ua hunaia, maloko o ka halelewa, a o ke kala hoi malalo iho.
23Họ lấy các vật đó giữa trại, đem về cho Giô-suê và cho hết thảy dân Y-sơ-ra-ên, rồi để trước mặt Đức Giê-hô-va.
23A lawe lakou i ua mau mea la mawaho o ka halelewa, a lawe mai la io Iosua la, a i na mamo a pau a Iseraela, a halii iho la lakou ia mau mea imua o Iehova.
24Bấy giờ, Giô-suê và cả Y-sơ-ra-ên bắt A-can, con cháu Xê-rách, cùng lấy bạc, áo choàng, nén vàng, con trai, con gái của người, bò, lừa, chiên, trại, và mọi vật chi thuộc về người, mà dẫn đến trong trũng A-cô.
24Lalau aku la o Iosua, a me ka Iseraela a pau ia Akana, i ke keiki a Zera, a me ke kala, a me ka aahu, a me ka auka gula, a me kana mau keikikane, a me kana mau kaikamahine, a me kona mau bipi, a me kona mau hoki, a me kona mau hipa, a me kona halelewa, a me kona mau mea a pau, a lawe ia lakou i ke awawa o Akora.
25Giô-suê nói: Sao ngươi có khuấy rối chúng ta? Đức Giê-hô-va chắc sẽ khuấy rối ngươi ngày nay. Rồi cả Y-sơ-ra-ên ném đá người; họ thiêu các người ấy trong lửa, và lấy đá lấp chúng nó lại.
25Olelo aku la o Iosua, No ke aha la oe i hana ino mai ai ia makou? E hana ino mai ana o Iehova ia oe i keia la. A o ka Iseraela a pau, hailuku aku la lakou ia ia i ka pohaku, a pau ko lakou hailuku ana ka pohaku, pupuhiia iho la lakou i ke ahi.
26Kế ấy, chúng chất trên thây người một đống đá lớn, hãy còn cho đến ngày nay. Đức Giê-hô-va bèn nguôi cơn thạnh nộ Ngài. Bởi cớ đó, người ta gọi chỗ này là A-cô cho đến ngày nay.
26Hoopuu iho la lakou i ahu pohaku maluna ona, a hiki mai i neia la. Alaila huli mai la o Iehova, mai ka wela mai o kona huhu. No ia mea, ua kapaia'ku ka inoa o ia wahi, o ke awawa o Akora a hiki i keia la.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.