Xuất
Chapter 15
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Daničić–Karadžić B…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Daničić–Karadžić Bible (1868), Cyrillic
1Đoạn, Môi-se và dân Y-sơ-ra-ên hát bài ca nầy cho Đức Giê-hô-va, rằng: Tôi ca tụng Đức Giê-hô-va, vì Ngài rất vinh hiển oai nghiêm. Ngài đã liệng xuống biển ngựa và người cỡi ngựa.
1Тада запева Мојсије и синови Израиљеви ову песму Господу, и рекоше овако: Певаћу Господу, јер се славно прослави; коња и коњика врже у море.
2Đức Giê-hô-va là sức mạnh và sự ca tụng của tôi: Ngài đã trở nên Đấng cứu tôi. Ngài là Đức Chúa Trời tôi, tôi ngợi khen Ngài; Đức Chúa Trời của tổ phụ tôi, tôi tôn kính Ngài.
2Сила је моја и песма моја Господ, који ме избави; Он је Бог мој, и славићу Га; Бога оца мог, и узвишаваћу Га.
3Đức Giê-hô-va là một chiến sĩ; Danh Ngài là Giê-hô-va.
3Господ је велик ратник; име му је Господ.
4Ngài đã ném xuống biển binh xa Pha-ra-ôn và cả đạo binh của người; Quan tướng kén chọn của người đã bị đắm nơi Biển đỏ,
4Кола Фараонова и војску његову врже у море; избране војводе његове утопише се у црвеном мору.
5Những lượn sóng đã vùi lấp họ rồi; Họ chìm đến đáy biển như một hòn đá vậy.
5Бездани их покрише; падоше у дубину као камен.
6Hỡi Đức Giê-hô-va! Tay hữu Ngài có sức mạnh vinh hiển thay. Hỡi Đức Giê-hô-va! Tay hữu Ngài hủy quân nghịch tan đi.
6Десница Твоја, Господе, прослави се у сили; десница Твоја, Господе, сатре непријатеља.
7Bởi sự cả thể của oai nghiêm Ngài, Đánh đổ kẻ dấy nghịch cùng mình. Ngài nổi giận phừng phừng, Đốt họ cháy như rơm ra.
7И мноштвом величанства свог оборио си оне који усташе на те; пустио си гнев свој, и прождре их као сламу.
8Lỗ mũi Ngài thở hơi ra, nước bèn dồn lại, Lượn sóng đổ dựng như một bờ đê; Vực sâu đọng lại nơi rún biển.
8Од даха ноздрва Твојих сабра се вода; стаде у гомилу вода која тече; стинуше се вали усред мора.
9Quân nghịch rằng: Ta đuổi theo, ta sẽ đuổi kịp Ta sẽ chia phân của giặc; Tâm hồn ta sẽ thỏa nguyện nơi họ; Ta rút gươm ra, tay ta hủy diệt họ.
9Непријатељ рече: Тераћу, стигнућу, делићу плен; наситиће их се душа моја, извући ћу мач свој, истребиће их рука моја.
10Ngài đã thở hơi ra Biển vùi lấp quân nghịch lại; Họ bị chìm như cục chì Nơi đáy nước sâu.
10Ти дуну ветром својим, и море их покри, и утонуше као олово у дубокој води.
11Hỡi Đức Giê-hô-va! trong vòng các thần, ai giống như Ngài? Trong sự thánh khiết, ai được vinh hiển như Ngài. Đáng sợ, đáng khen Hay làm các phép lạ?
11Ко је као Ти међу силнима. Господе? Ко је као Ти славан у светости, страшан у хвали, и да чини чудеса?
12Ngài đã đưa tay hữu ra, Đất đã nuốt chúng nó.
12Ти пружи десницу своју, и прождре их земља.
13Ngài lấy lòng thương xót dìu dắt Dân nầy mà Ngài đã chuộc lại; Ngài đã dùng năng lực đưa nó Về nơi ở thánh của Ngài.
13Водиш милошћу својом народ, који си искупио, водиш крепошћу својом у стан светости своје.
14Các dân tộc nghe biết việc nầy đều run sợ, Cơn kinh hãi áp-hãm dân xứ Pha-lê-tin.
14Чуће народи, и задрхтаће; мука ће спопасти оне који живе у земљи филистејској.
15Các quan trưởng xứ Ê-đôm bèn lấy làm bối rối; Mấy mặt anh hùng nơi Mô-áp đều kinh hồn; Cả dân Ca-na-an đều mất vía
15Тада ће се препасти старешине едомске, јунаке моавске спопашће дрхат, уплашиће се сви који живе у хананској.
16Sự hoảng hốt kinh hãi giáng cho chúng nó; Hỡi Đức Giê-hô-va! vì quyền cao nơi cánh tay Ngài, Chúng nó đều bị câm như đá, Cho đến chừng nào dân Ngài vượt qua; Cho đến khi dân mà Ngài đã chuộc, vượt qua rồi.
16Спопашће их страх и трепет; од величине руке Твоје замукнуће као камен, докле не прође народ Твој, Господе, докле не прође народ који си задобио.
17Hỡi Đức Giê-hô-va! Ngài đưa dân ấy vào, và lập nơi núi cơ nghiệp Ngài, Tức là chốn Ngài đã sắm sẵn, để làm nơi ở của Ngài, Hỡi Chúa! là đền thánh mà tay Ngài đã lập.
17Одвешћеш их и посадићеш их на гори наследства свог, на месту које си себи за стан спремио, Господе, у светињи, Господе, коју су Твоје руке утврдиле.
18Đức Giê-hô-va sẽ cai trị đời đời kiếp kiếp.
18Господ ће царовати довека.
19Vì ngựa của Pha-ra-ôn, binh xa, cùng lính kỵ người đã xuống biển; Và Đức Giê-hô-va đã vùi dập nước biển lên trên, Nhưng dân Y-sơ-ra-ên đi giữa biển như đi trên đất cạn.
19Јер уђоше коњи Фараонови с колима његовим и с коњицима његовим у море, и Господ поврати на њих воду морску; а синови Израиљеви пређоше сувим посред мора.
20Nữ tiên tri Mi-ri-am, là em gái A-rôn, tay cầm trống cơm, các đàn bà đều đi ra theo người, cầm trống cơm và múa.
20И Марија пророчица, сестра Аронова, узе бубањ у руку своју; а за њом изиђоше све жене с бубњевима и свиралама.
21Mi-ri-am đáp lại rằng: Hãy ca tụng Đức Giê-hô-va, vì Ngài rất vinh hiển oai nghiêm; Ngài đã liệng xuống biển ngựa và người cỡi ngựa.
21И отпеваше им Марија: Певајте Господу, јер се славно прослави; коња и коњика врже у море.
22Đoạn, Môi-se đem dân Y-sơ-ra-ên đi khỏi Biển đỏ, đến nơi đồng vắng Su-rơ; trọn ba ngày đi trong đồng vắng, kiếm chẳng được nước đâu cả.
22Потом крену Мојсије синове Израиљеве од Мора Црвеног, и пођоше у пустињу Сур; и три дана ишавши по пустињи не нађоше воду.
23Kế đến đất Ma-ra, nhưng vì nước tại đó đắng, uống chẳng được, nên chi chỗ nầy gọi là Ma-ra.
23Оданде дођоше у Меру, али не могоше пити воду у Мери, јер беше горка; отуда се прозва место Мера.
24Dân sự bèn oán trách Môi-se rằng: Chúng tôi lấy chi uống?
24Тада стаде народ викати на Мојсија говорећи: Шта ћемо пити?
25Môi-se kêu van Đức Giê-hô-va; Ngài bèn chỉ cho người một cây gỗ, người lấy liệng xuống nước, nước bèn hóa ra ngọt. Aáy tại đó, Đức Giê-hô-va định luật lệ cùng lập pháp độ cho dân sự, và tại đó Ngài thử họ.
25И Мојсије завапи ка Господу, а Господ му показа дрво, те га метну у воду, и вода поста слатка. Онде му даде уредбу и закон, и онде га окуша.
26Ngài phán rằng: Nếu ngươi chăm chỉ nghe lời Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, làm sự ngay thẳng trước mặt Ngài, lắng tai nghe các điều răn và giữ mọi luật lệ Ngài, thì ta chẳng giáng cho ngươi một trong các bịnh nào mà ta đã giáng cho xứ Ê-díp-tô; vì ta là Đức Giê-hô-va, Đấng chữa bịnh cho ngươi.
26И рече: Ако добро узаслушаш глас Господа Бога свог, и учиниш што је право у очима Његовим, и ако пригнеш ухо к заповестима Његовим и сачуваш све уредбе Његове, ниједну болест коју сам пустио на Мисир нећу пустити на тебе; јер сам ја Господ, лекар твој.
27Đoạn, dân sự đến đất Ê-lim; nơi đó có mười hai suối nước, và bảy mươi cây chà là; dân sự đóng trại tại đó, gần bên suối nước.
27И дођоше у Елим, где беше дванаест извора и седамдесет палми; и онде стадоше у логор код воде.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.