Phục 33
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Daničić–Karadžić Bible (1868), Cyrillic
1Vả, nầy là lời chúc phước mà Môi-se, người của Đức Chúa Trời, chúc cho dân Y-sơ-ra-ên, trước khi qua đời.
1А ово је благослов којим благослови Мојсије, човек Божји синове Израиљеве пред смрт своју.
2Người bèn nói: Đức Giê-hô-va đã đến từ Si-na-i, Ngài từ Sê-i-rơ dấy lên trên dân chúng, Chiếu sáng từ núi Pha-ran, Đến từ giữa muôn vàn đấng thánh; Từ tay hữu Ngài phát ra cho họ lửa của luật pháp Ngài.
2И рече: Господ изиђе са Синаја, и показа им се са Сира; засја с горе фаранске, и дође с мноштвом хиљада светаца, а у десници му закон огњени за њих.
3Ngài thương yêu dân sự, Các thánh của Ngài đều ở trong tay Ngài, Quì xuống chân Ngài, Đặng lãnh những lời của Ngài.
3Доиста љуби народе; сви су свети Његови у руци Твојој; и они се слегоше к ногама Твојим да приме речи Твоје.
4Môi-se đã ban một luật pháp cho chúng tôi, Là cơ nghiệp của hội chúng Gia-cốp.
4Мојсије нам даде закон, наследство збору Јаковљевом.
5Khi các quan trưởng của dân sự hội hiệp, Với những chi phái Y-sơ-ra-ên, Thì Ngài trở nên vua của Giê-su-run.
5Јер беше цар у Израиљу, кад се сабираху кнезови народни, племена Израиљева.
6Nguyện Ru-bên sống, chớ thác, Dẫu số người của nó sẽ ít đông.
6Да живи Рувим и не умре, а људи његових да буде мало!
7Người chúc cho Giu-đa rằng: Hỡi Đức Giê-hô-va, cầu xin Ngài nghe tiếng của Giu-đa, Và đưa người về dân mình; Nguyện tay người binh vực chúng, Xin Chúa đến giúp người đương địch cùng kẻ thù nghịch mình!
7А за Јуду рече: Услиши Господе глас Јудин, и доведи га опет к народу његовом; руке његове нека војују на њ, а Ти му помажи против непријатеља његових.
8Người cũng chúc cho Lê-vi rằng: Thu-mim và u-rim của ngươi vốn thuộc về người tin kính của ngươi, Mà ngươi thử thách tại Ma-sa, Tranh giành với tại nước Mê-ri-ba.
8И за Левија рече: Твој Тумим и Твој Урим нека буду у човека Твог светог, ког си окушао у Маси и с којим си се препирао на води Мериви;
9Lê-vi nói về cha mẹ mình rằng: Tôi không hề thấy cha mẹ; Người không nhận anh em mình, Chẳng biết đến con cái mình. Vì người gìn giữ lời Chúa, Canh chừng sự giao ước của Chúa.
9Који каже оцу свом и матери својој: Не гледам на вас; који не познаје браћу своју и за синове своје не зна, јер држи речи Твоје и завет Твој чува.
10Họ lấy mạng lịnh của Chúa dạy cho Gia-cốp, Và luật pháp Chúa cho Y-sơ-ra-ên; Họ để hương dưới mũi Ngài, Đặt của lễ thiêu trên bàn thờ Ngài.
10Они уче уредбама Твојим Јакова и закону Твом Израиља, и мећу кад под ноздрве Твоје и жртву што се сажиже на олтар Твој.
11Lạy Đức Giê-hô-va, xin ban phước cho của cải người, Và nhậm công việc của tay người làm. Xin bẻ nát họng của kẻ dấy nghịch và ghen ghét người, Để chúng nó không thế dấy lên nữa!
11Благослови, Господе, војску његову, и нека Ти мило буде дело руку његових; поломи бедре онима који устају на њ и који мрзе на њ, да не устану.
12Người chúc về Bên-gia-min rằng: Người mà Đức Giê-hô-va yêu mến Sẽ được ở yên gần bên Ngài. Hằng ngày Đức Giê-hô-va sẽ che chở người, Lập nơi ở Ngài giữa hai vai người.
12За Венијамина рече: Мили Господу наставаће без страха с Њим; заклањаће га сваки дан, и међу плећима Његовим наставаће.
13Người chúc về Giô-sép rằng: Xứ người được Đức Giê-hô-va ban phước; Từ trời Ngài giáng xuống cho người ân tứ rất báu, là sương-móc, Những suối của vực thẳm có nước sâu;
13И за Јосифа рече: Благословена је земља његова од Господа благом с неба, росом и из дубине одоздо,
14Những huê lợi quí nhất của mặt trời, Hoa quả cực báu của mặt trăng;
14И благом које долази од сунца, и благом које долази од месеца.
15Những vật nhất hạng của núi xưa, Các báu lạ của mấy gò đống đời đời,
15И благом старих брда и благом вечних хумова.
16Bửu bối của đất, và sự sung mãn nó. Nguyện ơn của Đấng hiện ra trong bụi gai Giáng xuống trên đầu Giô-sép, Và trên trán của chúa anh em người!
16И благом на земљи и обиљем њеним, и милошћу оног који стоји у купини. Нека то дође не главу Јосифу и на теме одвојеноме између браће своје.
17Oai nghiêm người giống như con bò đực đầu lòng; Hai sừng người vốn sừng của trâu! Người lấy sừng ấy báng mọi dân, Cho đến cuối đầu của đất. Đó là hằng muôn của Eùp-ra-im, Aáy là hằng ngàn của Ma-na-se.
17Красота је његова као у првенца телета, и рогови његови као рогови у једнорога; њима ће бости народе све до краја земље; то је мноштво хиљада Јефремових и хиљаде Манасијине.
18Người chúc về Sa-bu-lôn rằng: Hỡi Sa-bu-lôn, khá vui mừng về cuộc mình đi ra ngoài, Còn ngươi, Y-sa-ca, hãy hớn hở trong các trại mình!
18А за Завулона рече: Весели се Завулоне изласком својим, и Исахаре шаторима својим.
19Hai người sẽ gọi các dân tộc lên núi; Tại đó, dâng những của tế lễ công bình; Vì hai người sẽ hút sự dư dật của biển, Và những bửu vật lấp dưới cát.
19Народе ће сазвати на гору, онде ће принети жртве праведне; јер ће обиље морско сисати и скривено благо у песку.
20Người chúc về Gát rằng: Đáng ngợi khen thay Đấng để Gát nơi quảng-khoát, Người nằm nghỉ như một sư tử cái, Và xé cánh tay cùng đầu.
20А за Гада рече: Благословен је који шири Гада; он настава као лав, и кида руку и главу.
21Người đã chọn cho mình phần đầu nhất của xứ, Bởi vì tại đó đã dành phần của đấng lập luật pháp, Và người ở đằng đầu dân sự đi đến. Người đồng lòng với Y-sơ-ra-ên làm xong công bình của Đức Giê-hô-va, Và làm theo những mạng lịnh của Ngài.
21Изабра себи прво, јер онде доби део од Оног који даде закон; зато ће ићи с кнезовима народним, и извршавати правду Господњу и судове Његове с Израиљем.
22Người chúc về Đan rằng: Đan là một sư tử tơ, Từ Ba-san nhảy xông đến.
22А за Дана рече: Дан је лавић, који ће искакати из Васана.
23Người chúc về Nép-ta-li rằng: Nép-ta-li hưởng ân huệ cho thỏa nguyện, Và phước lành của Đức Giê-hô-va cho đầy dẫy, Chiếm được phương tây và phương nam.
23И за Нефталима рече: Нефталиме, сити милости и пуни благослова Господњег, запад и југ узми.
24Người chúc về A-se rằng: Nguyện cho A-se được phước giữa các con trai Y-sơ-ra-ên; Được đẹp lòng anh em mình, Và được dầm chân mình trong dầu!
24И за Асира рече: Асир ће бити благослов мимо друге синове, биће мио браћи својој, замакаће у уље ногу своју.
25Những then cửa người sẽ bằng sắt và đồng, Đời ngươi lâu bao nhiêu, sức mạng ngươi lâu bấy nhiêu.
25Гвожђе и бронза биће под обућом твојом; и докле трају дани твоји трајаће снага твоја.
26è Giê-su-run, không ai giống như Đức Chúa Trời, Là Đấng oai nghi, cỡi trên các từng trời, Trên những đám mây, đặng đến cứu giúp ngươi.
26Израиљу! Нико није као Бог, који иде по небу теби у помоћ, и у величанству свом на облацима.
27Đức Chúa Trời hằng sống là nơi ở của ngươi, ỳ dưới có cánh tay đời đời của Ngài, Ngài đuổi kẻ thù nghịch khỏi trước mặt ngươi, Và phán cùng ngươi rằng: Hãy diệt đi!
27Заклон је Бог вечни и под мишицом вечном; Он ће одагнати испред тебе непријатеље твоје, и рећи ће: Затри!
28Y-sơ-ra-ên sẽ ở bình an; Suối Gia-cốp phun lên riêng ra Trong một xứ ngũ cốc và rượu; Trời của ngươi nhỏ sương móc xuống.
28Да би наставао Израиљ сам безбрижно, извор Јаковљев, у земљи обилној житом и вином; и небо ће његово покропити росом.
29è! Y-sơ-ra-ên, ngươi có phước dường bao! Hỡi dân được Đức Giê-hô-va cứu rỗi, ai giống như ngươi? Ngài là cái thuẫn giúp đỡ ngươi, Thanh gươm khiến cho ngươi nên vinh hiển. Kẻ thù nghịch ngươi sẽ đến dua nịnh ngươi; Còn ngươi, ngươi sẽ lấy chân giày đạp các nơi cao của chúng nó.
29Благо теби народе Израиљу! Ко је као ти, народ ког је сачувао Господ, штит помоћи твоје, и мач славе твоје? Непријатељи ће се твоји понизити, а ти ћеш газити висине њихове.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.