Am
Chapter 7
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Baibala Hemolele (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Nầy là điều mà Chúa Giê-hô-va khiến ta xem thấy: Nầy, Ngài làm nên những cào cào trong lúc cỏ bắt đầu mọc lại; ấy là cỏ mọc lại sau các k” cắt cỏ của vua.
1PENEIA i hoike mai ai o Iehova ka Haku ia'u: Aia hoi, hana iho la ia i na uhini i ka ulu mua ana o ka weuweu hope; aia hoi, o ka weuweu lua ia mahope o ka ke alii oki ana. A i ka wa i hoopau ai lakou i ka ai ana i ka weuweu o ka aina, alaila i aku la au,
2Khi cào cào đã cắn nuốt cỏ trong đất rồi, ta nói rằng: Hỡi Chúa Giê-hô-va, tôi cầu xin Ngài hãy tha thứ! Gia-cốp há có thể đứng được sao? vì nó là nhỏ.
2E Iehova ka Haku, ke noi aku nei au, e kala mai oe. Pehea la e ku mai ai o Iakoba? No ka mea, ua uuku ia.
3Đức Giê-hô-va bèn ăn năn về việc nầy. Đức Giê-hô-va phán rằng: Điều đó sẽ không xảy ra đâu.
3Huli ae la o Iehova no keia mea: aole ia e hiki mai, wahi a Iehova.
4Chúa Giê-hô-va cho ta xem thấy như sau nầy: Nầy, Chúa Giê-hô-va khiến lấy lửa mà chống trả. Lửa ấy thiêu nuốt vực lớn, đoạn hầu ăn nuốt đất.
4Peneia i hoike mai ai o Iehova ka Haku ia'u; Aia hoi, kahea mai o Iehova ka Haku, e hakaka me ke ahi, a ai iho la ia i ka hohonunui, a hoopau iho la i kauwahi. Alaila, i aku la au,
5Bấy giờ ta nói rằng: Hỡi Chúa Giê-hô-va, tôi cầu xin Ngài hãy thôi đi! Gia-cốp há có thể đứng được sao? vì nó là nhỏ.
5E ka Haku, e Iehova, ke noi aku nei au, e oki: Pehea e ku mai ai o Iakoba? No ka mea, ua uuku ia.
6Đức Giê-hô-va bèn ăn năn việc nầy. Chúa Giê-hô-va phán rằng: Điều đó cũng sẽ không xảy đến.
6Huli ae la o Iehova no keia mea: aole e hiki mai keia, wahi a Iehova ka Haku.
7Ngài bèn cho ta xem thấy như sau nầy: Nầy, Chúa đứng trên một bức tường thẳng nảy mực, và tay Ngài cầm một dây chuẩn mực.
7Peneia i hoike mai ai oia ia'u: Aia hoi, ku mai la ka Haku maluna o ka papohaku kupono, me ka mea hookupono ma kona lima.
8Đức Giê-hô-va phán cùng ta rằng: A-mốt, ngươi thấy gì? Ta thưa rằng: Một dây chuẩn mực. Chúa bèn phán: Nầy, ta sẽ đặt dây chuẩn mực giữa dân Y-sơ-ra-ên ta; ta sẽ không còn đi qua nó nữa.
8A i mai la o Iehova ia'u, E Amosa, heaha la kau e ike nei? A i aku la au, He mea hookupono. Alaila, i mai la o Iehova. Aia hoi, e hoonoho aku au i na mea hookupono iwaena o kuu poe kanaka o ka Iseraela: Aole au i hele hou ae mai o lakou aku.
9Các nơi cao của Y-sác sẽ bị hoang vu, các nơi thánh của Y-sơ-ra-ên sẽ bị hủy phá, và ta sẽ dấy lên dùng gươm đánh nhà Giê-rô-bô-am.
9A e hooneoneoia na wahi kiekie o Isaaka, A e wawahiia na wahi hoano o ka Iseraela: A e ku e aku au i ka hale o Ieroboama me ka pahikaua.
10Bấy giờ, A-ma-xia, thầy tế lễ của Bê-tên, khiến nói cùng Giê-rô-bô-am là vua Y-sơ-ra-ên rằng: A-mốt tập lập nghịch cùng vua, ở giữa nhà Y-sơ-ra-ên; đất chẳng chịu nổi mọi lời của nó.
10Alaila, hoouna aku la o Amazia, ke kahuna o Betela. Io Ieroboama la, ke alii o ka Iseraela, i aku la, Ua ku e mai o Amosa ia oe iwaena o ko ka hale o Iseraela: aole e hiki i ka aina ke hoomanawanui i kana mau olelo a pau.
11Thật vậy, nầy, A-mốt nói rằng: Giê-rô-bô-am sẽ chết bởi gươm, và Y-sơ-ra-ên chắc sẽ bị đày đi làm phu tù khỏi đất mình!
11No ka mea, ke olelo mai nei o Amosa penei, E make auanei o Ieroboama i ka pahikaua, a e lawe pio ia'ku ka Iseraela mai ko lakou aina aku.
12A-ma-xia nói cùng A-mốt rằng: Hỡi kẻ tiên kiến, khá đi khỏi đây. Hãy trốn trong đất Giu-đa, tại đó ăn bánh và nói tiên tri.
12Olelo aku la hoi o Amazia ia Amosa, E ke kaula ike, o hele, e holo aku oe i ka aina o Iuda, a malaila e ai ai i ka berena, a e wanana malaila:
13Nhưng chớ cứ nói tiên tri tại Bê-tên nữa; vì ấy là một nơi thánh của vua, và ấy là nhà vua.
13A mai wanana hou ma Betela: no ka mea, he heiau keia no ke alii, a o ko ke alii hale noho keia.
14A-mốt trả lời cho A-ma-xia rằng: Ta không phải là đấng tiên tri, cũng không phải con đấng tiên tri; nhưng ta là một kẻ chăn, sửa soạn những cây vả rừng.
14Alaila, olelo aku la o Amosa, a i aku la ia Amazia, Aole wau he kaula mamua. aole hoi he keiki a ke kaula; aka, he hanai bipi wau, a he mea hoiliili hua sukamore:
15Đức Giê-hô-va đã bắt lấy ta từ sau bầy, và Đức Giê-hô-va phán cùng ta rằng: Hãy đi nói tiên tri cho dân Y-sơ-ra-ên ta.
15A lawe o Iehova ia'u mai ka hahai ana i na holoholona, a olelo mai o Iehova ia'u, E hele, e wanana aku i kuu poe kanaka i ka Iseraela.
16Vả, hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va: Ngươi nói rằng: Chớ nói tiên tri nghịch cùng Y-sơ-ra-ên, và đừng nhỏ lời xuống nghịch cùng nhà Y-sác.
16Ano hoi, e hoolohe oe i ka olelo a Iehova; Ke olelo nei oe, Mai wanana ku e aku i ka Iseraela, a mai hapai ku e oe i kau olelo i ko ka hale o Isaaka.
17Cho nên Đức Giê-hô-va phán như vầy: Vợ ngươi sẽ buông dâm trong thành; con trai và con gái ngươi sẽ ngã bởi gươm; đất ngươi sẽ bị chia bởi dây, còn ngươi, ngươi sẽ chết trong một đất ô uế, và Y-sơ-ra-ên chắc sẽ bị đày đi làm phu tù khỏi đất mình.
17No ia mea, ke olelo mai nei o Iehova, penei: E moe kolohe kau wahine ma ke kulanakauhale, a o kau mau keikikane, a me kau mau kaikamahine, e haule lakou i ka pahikaua, A e puunaueia kou aina me ke kaula-ana: a e make oe ma ka aina haumia; A e hele pio aku ka Iseraela mai ko lakou aina aku.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.