II Vua
Chapter 10
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Baibala Hemolele (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Vả, tại Sa-ma-ri, có bảy mươi con trai của A-háp, Giê-hu viết thơ gởi đến các đầu mục của Gít-rê-ên tại Sa-ma-ri, tức là các trưởng lão, và các giáo sư của những con trai A-háp, mà rằng:
1A HE kanahiku na keiki a Ahaba ma Samaria. A kakau iho la o Iehu i na palapala, hoouna aku i Samaria, na na luna o Iezereela, na na luna kahiko, a na na kahu o na keiki a Ahaba, i ka i ana'e,
2Tại nơi các ngươi các ngươi có những con trai của chủ các ngươi, lại có xe, ngựa binh khí, và thành kiên cố. Aáy vậy, hễ các ngươi tiếp được thơ nầy,
2Ano, a hiki aku keia palapala io oukou la, no ka noho ana o na keiki a ko oukou haku me oukou, a ia oukou na halekaa a me na lio, a me ke kulanakauhale paa i ka papohaku, a me na mea kaua;
3hãy chọn trong các con trai chủ mình, ai là người tử tế nhất, có tài năng hơn hết, lập người ấy trên ngôi của cha người, rồi tranh chiến vì nhà chủ của các ngươi.
3E imi aku oukou i ka mea maikai a me ka mea pono o na keiki a ko oukou haku, a e hoonoho ia ia maluna o ka nohoalii o kona makuakane, a e kaua mai no ko ka hale o ko oukou haku.
4Chúng bèn sợ hãi lắm, và nói rằng: Hai vua không thế đứng nổi trước mặt người, còn chúng ta, chống cự với người sao nổi?
4A makau loa iho la lakou, i ae la, Aia hoi, aole i ku na'lii elua imua ona; pehea la kakou e ku ai?
5Quan cai đền và quan cai thành, cùng các trưởng lão và các giáo sư của các con trai A-háp, sai nói với Giê-hu rằng: Chúng tôi là tôi tớ ông; chúng tôi sẽ làm mọi điều ông biểu chúng tôi. Chúng tôi chẳng muốn chọn ai làm vua, ông khá làm điều gì theo ý ông cho là phải.
5A o ka luna o ko ka hale, a me ka luna o ke kulanakauhale, o na lunakahiko, a me na haku, hoouna aku la lakou io Iehu la, i aku la, He poe kauwa makou nau, a e hana no makou i na mea a pau au e olelo mai ai; aole e hoaliiia kekahi; e hana oe i ka mea pono i kou manao.
6Người viết thơ cho chúng lần thứ nhì, mà rằng: Nếu các ngươi thuộc về ta, và khứng nghe theo mạng lịnh ta, thì khá cắt đầu những con trai chủ các ngươi; rồi ngày mai, tại giờ này, hãy đến cùng ta ở nơi Gít-rê-ên. Vả, các con trai của vua, số là bảy mươi người, đều ở tại nhà những người sang trọng của thành, lo giáo dục chúng nó.
6Alaila palapala hou aku la oia ia lakou, i aku la, ina no'u oukou, a e hoolohe hoi i ko'u leo, alaila, e lawe oukou i na poo o na kanaka, o na keiki a ko oukou haku, a e hele mai i o'u nei i Iezereela ma keia manawa i ka la apopo. (A o na keiki a ke alii, he kanahiku lakou e noho ana me na kanaka koikoi o ke kulanakauhale, nana lakou i hanai.)
7Chúng vừa tiếp được bức thơ ấy, bèn bắt bảy mươi con trai của vua, mà giết đi, đoạn để thủ cấp họ trong những thúng, gởi đến cho Giê-hu, tại Gít-rê-ên.
7A hiki aku ka palapala io lakou la, lawe lakou i na keiki a ke alii, a pepehi iho la i na mea he kanahiku, a waiho lakou i na poo maloko o na hinai, a hoouna aku io na la ma Iezereela.
8Có sứ giả đến báo tin cho người, rằng: Người ta có đem đến thủ cấp các con trai của vua. Giê-hu đáp: Hãy chất làm hai đống tại nơi cửa thành cho đến sáng mai.
8A hele mai kekahi elele a hai aku ia ia, i aku la, Ua lawe mai lakou i na poo o na keiki a ke alii. I mai la ia, E waiho ia lakou ma na puu elua, ma kahi i komo ai i ka ipuka, a kakahiaka.
9Sáng mai, người đi ra, đứng trước mặt cả dân sự, mà nói rằng: Các ngươi vẫn công bình. Kìa, ta đã phản nghịch chủ ta, và có giết người; nhưng còn các kẻ này, ai đã giết họ?
9A i kakahiaka, hele aku ia, a ku, i aku la i na kanaka a pau, Ua pono oukou: aia hoi, ua kipi aku au i kuu haku, a pepehi aku ia ia: aka, owai la ka i pepehi i keia mau mea a pau?
10Vậy, bây giờ, hãy nhìn biết rằng: trong các lời Đức Giê-hô-va đã phán về nhà A-háp sẽ chẳng có lời nào sa xuống đất; vì Đức Giê-hô-va đã làm điều Ngài cậy miệng Ê-li, tôi tớ Ngài, mà phán ra.
10E ike ana oukou, aole e haule i ka honua kekahi o ka olelo a Iehova i olelo mai ai no ko ka hale o Ahaba: no ka mea, ua hana mai o Iehova i ka mea ana i olelo mai ai ma o Elia la kana kauwa.
11Giê-hu cũng giết hết thảy những người còn sót lại trong nhà A-háp ở Gít-rê-ên, luôn các đại thần, các bạn hữu thiết, và những thầy cả của người, chẳng để còn lại một ai hết.
11A pepehi aku la o Iehu i na mea a pau i koe no ko ka hale o Ahaba ma Iezereela, a me kona poe koikoi a pau, a me kona poe hoalauna, a me kana poe kahuna, aole ia i hookoe i kekahi nona.
12Đoạn, Giê-hu đứng dậy, đi đến Sa-ma-ri. Khi người đến gần chòi kẻ chăn chiên ở dọc đường,
12A ku ae la ia, a hele aku la a hiki i Samaria. Aia no ia ma ka hale hoopaa o na kahuhipa ma ke aia.
13gặp các anh em A-cha-xia vua Giu-đa, thì nói rằng: Các ngươi là ai? Chúng nó đáp: Chúng tôi là anh em của A-cha-xia, đi xuống chào các con trai của vua và của hoàng hậu.
13A loaa ia Iehu na hoahanau o Ahazia ke alii o ka Iuda, a ninau aku la, Owai oukou? I mai la lakou, He mau hoahanau makou no Ahazia, a e iho ana makou e ike i na keiki a ke alii a me na keiki a ke aliiwahine.
14Giê-hu bèn truyền lịnh rằng: Hãy bắt sống chúng nó. Người ta bắt sống chúng nó, số là bốn mươi hai người; rồi giết họ gần giếng của chòi kẻ chăn chiên. Người ta chẳng để sống một ai.
14I aku la, E hoopaa ola aku ia lakou: a hoopaa ola aku la na kanaka ia lakou, a luku aku la ia lakou ma ka luawai o ka hale hoopaa, he kanaha kumamalua na kanaka; aole ia i hookoe i kekahi o lakou.
15Đi khỏi đó, Giê-hu gặp Giô-na-đáp, con trai Rê-cáp, đang đi đến đón người. Người chào Giô-na-đáp, và nói rằng: Lòng ngươi có chân thành cùng tôi, như lòng tôi đã chân thành với ngươi chăng? Giô-na-đáp đáp rằng: Phải, chân thành. Giê-hu tiếp: Thế thì, nếu chân thành, hãy giơ tay cho tôi. Giô-na-đáp bèn giơ tay cho người. Giê-hu biểu người lên xe với mình,
15A hele ia mailaila aku a loaa ia ia o Iehonadaba ke keiki a Rekaba e halawai me ia: a hoomaikai aku o Iehu ia ia, i aku la, Ua pono anei kou naau, e like me ko'u naau me kou naau? I mai la o Iehonadaba, Oia no. Ina pela, e haawi mai oe i kou lima. A haawi aku ia i kona lima, a hoee aku la ia ia ma ka halekaa me ia.
16và nói rằng: Hãy đến cùng tôi, xem lòng sốt sắng tôi đối với Đức Giê-hô-va. Vậy, Giê-hu dẫn người lên xe mình.
16I aku la ia, E hele pu oe me au, a ike oe i kuu ikaika no Iehova. A hooholo lakou ia ia ma kona halekaa.
17Khi đã vào Sa-ma-ri rồi, người giết hết thảy những người còn sót lại của nhà A-háp tại Sa-ma-ri, đến đỗi đã diệt sạch nhà ấy, y như lời của Đức Giê-hô-va đã phán cùng Ê-li vậy.
17A hiki aku la ia i Samaria, pepehi aku la ia i na mea a pau i koe no Ahaba ma Samaria, a pau ia i ka lukuia, e like me ka olelo a Iehova ana i olelo mai ai ma o Elia la.
18Giê-hu nhóm hết thảy dân sự, và nói cùng chúng rằng: A-háp ít hầu việc Ba-anh; Giê-hu sẽ hầu việc nhiều.
18Houluulu ae la o Iehu i na kanaka a pau, a i aku la ia lakou, Malama uuku aku o Ahaba ia Baala, e malama nui auanei o Iehu ia ia.
19Vậy bây giờ, hãy nhóm lại cho ta các tiên tri của Ba-anh, các đầy tớ người, và hết thảy thầy cả người. Chớ thiếu một ai, vì ta có ý dâng một của tế lễ lớn cho Ba-anh. Hễ ai không đến, ắt sẽ không sống. Vả, Giê-hu dùng mưu trí, toan diệt các kẻ hầu việc thần Ba-anh.
19Ano hoi, e hoakoakoa mai oukou i na kaula a pau a Baala, a me kana poe kauwa a pau, a me kana poe kahuna a pau io'u nei, mai hookoeia kekahi; no ka mea, he mohai nui ka'u no Baala; o kela mea keia mea e koe ana, aole ia e ola. Aka, hana no o Iehu me ka hoopunipuni, i luku aku ai ia i ka poe malama ia Baala.
20Giê-hu lại ra lịnh rằng: Hãy rao một lễ trọng thể để cúng thờ thần Ba-anh. Người bèn rao lễ ấy,
20I aku la o Iehu, E hoolaa aku i ka houluulu ana no Baala. A hoolaa aku la lakou.
21và Giê-hu sai những sứ giả đi khắp xứ Y-sơ-ra-ên đòi hết thảy tôi tớ của Ba-anh đến; chúng đều đến chẳng có thiếu một ai hết. Chúng vào miễu thần Ba-anh; và miễu đầy chật từ đầu này đến đầu kia.
21A hoouna aku la o Iehu i ka Iseraela a puni; a hele mai na kauwa a pau a Baala, aole i koe aku kekahi i hele ole mai. A komo lakou i ka hale o Baala, a piha loa ka hale o Baala mai kela aoao a i keia aoao.
22Giê-hu bèn nói cùng người giữ áo lễ rằng: Hãy phát các áo lễ cho các tôi tớ của Ba-anh. Kẻ ấy bèn phát áo cho chúng nó.
22I aku la ia i ka mea nana i malama ke keena lole, E lawe mai iwaho i ka lole no na kauwa a Baala. A lawe mai no ia i ka lole no lakou.
23Giê-hu và Giô-na-đáp, con trai của Rê-cáp, vào trong miễu thần Ba-anh, nói với các tôi tớ của Ba-anh rằng: Hãy tìm xem cho kỹ, hoặc ở đây có tôi tớ nào của Đức Giê-hô-va chăng, chỉ phải có những tôi tớ của Ba-anh đó thôi.
23Komo aku o Iehu, a me Iehonadaba, ke keiki a Rekaba, iloko o ka hale o Baala, a i aku la i na kauwa a Baala, E nana oukou a ike, i ole maanei me oukou kekahi o na kauwa a Iehova, o na kauwa a Baala wale no.
24Chúng vào đặng dâng các lễ vật và của lễ thiêu. Vả, Giê-hu đã phục tám mươi người rình ngoài miễu, và dặn biểu họ rằng: Ví có ai trong những người mà ta phó vào tay các ngươi thoát khỏi đặng, ắt mạng sống của kẻ để cho nó thoát khỏi sẽ thế cho mạng sống nó.
24A komo aku la lakou e kaumaha aku i ka mohai, a me na mohaikuni, alaila hoonoho iho la o Iehu i na kanaka, he kanawalu mawaho, i aku la, O ka mea nana e hoopakele kekahi o na kanaka a'u i lawe mai nei iloko o ko oukou lima, o lilo no kona ola no ko ia la ola.
25Khi đã dâng của lễ thiêu xong, Giê-hu nói với quân hộ vệ và các quan tướng rằng: Hãy vào giết chúng nó, chớ để một ai được ra. vậy, chúng giết họ bằng lưỡi gươm. Đoạn, quân hộ vệ và các quan tướng ném thây họ ra ngoài, lật đật vào thành của miễu Ba-anh.
25A pau kana kaumaha ana'ku i ka mohaikuni, i aku la o Iehu i ka poe kiai, a i na luna, E komo iloko, e luku ia lakou; mai puka iwaho kekahi. A luku aku la ua poe la ia lakou me ka maka o ka pahikaua; a o ka poe kiai a me na luna hoolei aku la ia lakou, a hele aku la i ke kulanakauhale o Baala.
26Chúng cất những trụ thờ khỏi miễu và đốt đi,
26A lawe mai lakou i na kii mawaho o ka hale o Baala, a puhi aku la i ke ahi.
27đập bể hình tượng Ba-anh, cùng phá dỡ đền nó, làm thành một lỗ xí hãy còn đến ngày nay.
27A wawahi lakou i ke kii o Baala, a wawahi hoi i ka hale o Baala, a hoolilo lakou ia mea i hale kiona a hiki i keia la.
28Như vậy, Giê-hu trừ diệt thần Ba-anh khỏi Y-sơ-ra-ên.
28A luku aku la o Iehu ia Baala mai loko aku o ka Iseraela.
29Song người chẳng từ bỏ tội của Giê-rô-bô-am, con trai của Nê-bát, tức tội đã gây cho Y-sơ-ra-ên phạm tội; nghĩa là người còn để lại các bò vàng tại Bê-tên và tại Đan.
29Aka hoi, o na hewa o Ieroboama ke keiki a Nebata, nana i hoolilo ka Iseraela i ka hewa, aole i haalele o Iehu i ka hahai ana mamuli o lakou, o na keikibipi gula ma Betela a ma Dana.
30Đức Giê-hô-va phán với Giê-hu rằng: Bởi vì ngươi đã làm rất phải, xử công bình trước mặt ta, và đãi nhà A-háp thuận ý ta, nên con trai ngươi sẽ ngồi trên ngôi Y-sơ-ra-ên cho đến đời thứ tư.
30A olelo mai o Iehova ia Iehu, no ka mea, ua maikai oe i ka hana ana i ka pono ia'u, a ua hana aku oe i ko ka hale o Ahaba, e like me ka mea a pau ma ko'u naau, e noho auanei kau poe keiki maluna o ka nohoalii o ka Iseraela a hiki i ke kualua.
31Nhưng Giê-hu không hết lòng cẩn thận theo luật pháp của Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên; người chẳng từ bỏ tội của Giê-rô-bô-am, tức tội đã gây cho Y-sơ-ra-ên phạm tội.
31Aka, aole o Iehu i malama i ka hele ana ma ke kanawai o Iehova ke Akua o ka Iseraela me kona naau a pau: no ka mea, aole ia i haalele i na hewa o Ieroboama, nana i hoolilo ka Iseraela i ka hewa.
32Trong lúc ấy, Đức Giê-hô-va khởi giảm bớt địa phận Y-sơ-ra-ên, khiến cho Ha-xa-ên hãm đánh chúng trên các giới hạn Y-sơ-ra-ên,
32I kela manawa i hoomaka ai o Iehova e paipai i ka Iseraela: a luku mai la o Hazaela ia lakou ma na mokuna a pau o ka Iseraela;
33chiếm lấy cả miền từ Giô-đanh chạy đến phía đông, tức là cả xứ Ga-la-át, đất của chi phái Gát, Ru-bên, và Ma-na-se, từ thành A-rô-e, ở trên khe Aït-nôn, và cho đến cả xứ Ga-la-át và xứ Ba-san.
33Mai Ioredane, mai ka hikina o ka la, i ka aina a pau o Gileada, i ka Gada, a me ka Reubena, a me ka Manase, mai Aroera ma ke kahawai o Arenona, a hiki i Gileada a me Basana.
34Các chuyện khác của Giê-hu, các công việc người, và sự mạnh dạn người, đều đã chép trong sử ký về các vua Y-sơ-ra-ên.
34A o na mea i koe a Iehu, a o na mea a pau ana i hana'i, a me kona ikaika a pau, aole anei i kakauia lakou iloko o ka buke oihanaalii a na'lii o ka Iseraela?
35Người an giấc cùng các tổ phụ mình, được chôn tại Sa-ma-ri; Giô-a-cha, con trai người, kế vị người.
35A hiamoe iho la o Iehu me kona poe makua; a kanu lakou ia ia ma Samaria. A noho alii o Iehoahaza kana keiki ma kona wahi.
36Giê-hu cai trị tên Y-sơ-ra-ên hai mươi tám năm tại Sa-ma-ri.
36A o ka manawa a Iehu i alii ai maluna o ka Iseraela ma Samaria, he iwakalua na makahiki ia a me kumamawalu.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.