Êxodo 32
Bíblia Portuguesa Mundial (Brazilian Portuguese)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Quando o povo viu que Moisés demorava a descer do monte, o povo se reuniu ao redor de Arão e lhe disse: “Venha, faça para nós deuses que vão adiante de nós; pois, quanto a este Moisés, o homem que nos tirou da terra do Egito, não sabemos o que aconteceu com ele.”
1Dân sự thấy Môi-se ở trên núi chậm xuống, bèn nhóm lại chung quanh A-rôn mà nói rằng: Nào! hãy làm các thần để đi trước chúng tôi đi, vì về phần Môi-se nầy, là người đã dẫn chúng tôi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, chúng tôi chẳng biết điều chi đã xảy đến cho người rồi.
2Arão lhes disse: “Tirem os brincos de ouro que estão nas orelhas de suas mulheres, de seus filhos e de suas filhas, e tragam-nos para mim.”
2A-rôn đáp rằng: Hãy lột những vòng vàng đeo nơi tai vợ, con trai và con gái các ngươi đi, rồi đem lại cho ta.
3Todo o povo tirou os brincos de ouro que estavam em suas orelhas e os trouxe a Arão.
3Hết thảy đều lột vòng vàng nơi tai mình mà đem lại cho A-rôn;
4Ele recebeu o que lhe entregaram, moldou-o com um buril e fez um bezerro fundido. Então eles disseram: “Estes são os seus deuses, ó Israel, que tiraram você da terra do Egito.”
4người nhận lấy nơi tay họ, và dùng đục làm thành một bò con đúc. Dân chúng nói rằng: Hỡi Y-sơ-ra-ên! nầy là các thần của ngươi đã đem ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô.
5Quando Arão viu isso, construiu um altar diante dele; e Arão fez uma proclamação e disse: “Amanhã haverá uma festa ao SENHOR.”
5A-rôn thấy vậy, bèn lập một bàn thờ trước mặt tượng bò đó; đoạn, người la lên rằng: Sáng mai sẽ có lễ tôn trọng Đức Giê-hô-va!
6Eles se levantaram cedo no dia seguinte, ofereceram holocaustos e trouxeram ofertas pacíficas; e o povo sentou-se para comer e beber, e levantou-se para se divertir.
6Sáng mai dân chúng bèn thức dậy sớm, dâng các của lễ thiêu và lễ thù ân; ngồi mà ăn uống, đoạn đứng dậy mà vui chơi.
7O SENHOR falou a Moisés: “Vá, desça; pois o seu povo, que você tirou da terra do Egito, se corrompeu!
7Đức Giê-hô-va bèn phán cùng Môi-se rằng: Hãy xuống đi, vì dân mà ngươi đưa ra khỏi xứ Ê-díp-tô đã bại hoại rồi,
8Eles se desviaram rapidamente do caminho que eu lhes ordenei. Fizeram para si um bezerro fundido, o adoraram, sacrificaram a ele e disseram: 'Estes são os seus deuses, ó Israel, que tiraram você da terra do Egito'.”
8vội bỏ đạo ta truyền dạy, đúc một con bò tơ, mọp trước tượng bò đó và dâng của lễ cho nó mà nói rằng: Hỡi Y-sơ-ra-ên! đây là các thần đã dẫn ngươi lên khỏi xứ Ê-díp-tô!
9O SENHOR disse a Moisés: “Tenho visto este povo, e eis que é um povo de dura cerviz.
9Đức Giê-hô-va cũng phán cùng Môi-se rằng: Ta đã xem thấy dân nầy, kìa là một dân cứng cổ.
10Agora, portanto, deixe-me em paz, para que a minha ira se acenda contra eles, e para que eu os consuma; e farei de você uma grande nação.”
10Vả, bây giờ hãy để mặc ta làm, hầu cho cơn thạnh nộ ta nổi lên cùng chúng nó, diệt chúng nó đi; nhưng ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn.
11Moisés suplicou ao SENHOR, seu Deus, e disse: “SENHOR, por que a tua ira se acende contra o teu povo, que tiraste da terra do Egito com grande poder e com mão forte?
11Môi-se bèn nài xin Giê-hô-va Đức Chúa Trời người rằng: Lạy Đức Giê-hô-va, sao nổi thạnh nộ cùng dân Ngài? là dân mà Ngài đã dùng quyền lớn lao mạnh mẽ đưa ra khỏi xứ Ê-díp-tô.
12Por que os egípcios deveriam falar, dizendo: 'Ele os tirou para o mal, para matá-los nas montanhas e para consumi-los da face da terra'? Volta-te da tua ira ardente e desiste deste mal contra o teu povo.
12Sao để cho người Ê-díp-tô nói rằng: Ngài đưa chúng nó ra khỏi xứ đặng làm hại cho, giết đi tại trong núi, cùng diệt chúng nó khỏi mặt đất? Cầu xin Chúa hãy nguôi cơn giận và bỏ qua điều tai họa mà Ngài muốn giáng cho dân Ngài.
13Lembra-te de Abraão, Isaque e Israel, teus servos, a quem juraste por ti mesmo, e lhes disseste: 'Multiplicarei a sua descendência como as estrelas do céu, e toda esta terra de que falei darei à sua descendência, e eles a herdarão para sempre'.”
13Xin Chúa hãy nhớ lại Aùp-ra-ham, Y-sác, Y-sơ-ra-ên, là các tôi tớ Ngài, mà Ngài có chỉ mình thề cùng họ rằng: Ta sẽ thêm dòng dõi các ngươi lên nhiều như sao trên trời, ta sẽ ban cho dòng dõi đó cả xứ mà ta chỉ phán, và họ sẽ được xứ ấy làm cơ nghiệp đời đời.
14Então o SENHOR desistiu do mal que disse que faria ao seu povo.
14Đức Giê-hô-va bèn bỏ qua điều tai họa mà Ngài nói rằng sẽ giáng cho dân mình.
15Moisés virou-se e desceu do monte, com as duas tábuas da aliança em sua mão; tábuas que estavam escritas de ambos os lados. Estavam escritas de um lado e do outro.
15Đoạn, Môi-se ở trên núi trở xuống, tay cầm hai bảng chứng; hai bảng chứng có viết hai bên, mặt nầy và mặt kia.
16As tábuas eram obra de Deus, e a escrita era a escrita de Deus, gravada nas tábuas.
16Hai bảng đó là việc của Đức Chúa Trời làm ra; chữ cũng là chữ của Đức Chúa Trời khắc trên bảng.
17Quando Josué ouviu o barulho do povo gritando, disse a Moisés: “Há barulho de guerra no acampamento.”
17Vả, Giô-suê nghe dân chúng la lên, bèn nói cùng Môi-se rằng: Trong trại quân có tiếng chiến đấu.
18Ele respondeu: “Não é a voz dos que gritam por vitória. Não é a voz dos que clamam por serem derrotados; mas é o barulho de pessoas cantando que eu ouço.”
18Môi-se đáp rằng: Chẳng phải tiếng kêu về thắng trận, cũng chẳng phải tiếng kêu về thua trận; nhưng ta nghe tiếng kẻ hát.
19Assim que ele se aproximou do acampamento, viu o bezerro e as danças. Então a ira de Moisés se acendeu, e ele jogou as tábuas das suas mãos, quebrando-as ao pé do monte.
19Khi đến gần trại quân, Môi-se thấy bò con và sự nhảy múa, bèn nổi giận, liệng hai bảng chứng khỏi tay mình, bể ra nơi chân núi;
20Ele pegou o bezerro que haviam feito e o queimou no fogo, moeu-o até virar pó, espalhou-o sobre a água e fez os filhos de Israel beberem dela.
20đoạn lấy bò con của chúng đã đúc đem đốt trong lửa, rồi nghiền cho đến thành ra bụi, rải trên mặt nước, và cho dân Y-sơ-ra-ên uống.
21Moisés disse a Arão: “O que este povo fez a você, para que trouxesse sobre eles um pecado tão grande?”
21Môi-se bèn nói cùng A-rôn rằng: Dân nầy làm chi anh, mà anh xui cho chúng phạm tội nặng dường ấy?
22Arão respondeu: “Não deixe que a ira do meu senhor se acenda. Você conhece o povo, e sabe que eles são propensos ao mal.
22A-rôn đáp rằng: Xin chúa tôi đừng nổi giận, chúa biết rằng dân nầy chuyên làm điều ác!
23Pois eles me disseram: 'Faça para nós deuses que vão adiante de nós. Quanto a este Moisés, o homem que nos tirou da terra do Egito, não sabemos o que aconteceu com ele.'
23Họ có nói cùng tôi rằng: Hãy làm các thần đi trước chúng tôi; vì về phần Môi-se nầy, là người đã dẫn chúng tôi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, chúng tôi chẳng biết có điều chi xảy đến cho người rồi.
24Eu lhes disse: 'Quem tiver algum ouro, que o tire.' Então eles me deram; e eu o joguei no fogo, e saiu este bezerro.”
24Tôi bèn nói cùng chúng rằng: Ai có vàng hãy lột ra! Họ bèn đưa cho tôi, tôi bỏ vào lửa, và bởi đó thành ra bò con nầy.
25Quando Moisés viu que o povo estava fora de controle (pois Arão os havia deixado perder o controle, tornando-os motivo de zombaria entre os seus inimigos),
25Vả, Môi-se thấy dân sự buông lung, vì A-rôn để họ buông lung, đến đỗi bị sỉ nhục trong vòng các thù nghịch,
26então Moisés ficou em pé à porta do acampamento e disse: “Quem é do lado do SENHOR, venha a mim!” Todos os filhos de Levi se reuniram ao redor dele.
26thì người đứng nơi cửa trại quân mà nói rằng: Ai thuộc về Đức Giê-hô-va, hãy đến cùng ta đây! Hết thảy người Lê-vi đều nhóm lại gần bên người.
27Ele lhes disse: “Assim diz o SENHOR, o Deus de Israel: 'Cada um coloque a sua espada na coxa, e vá de porta em porta por todo o acampamento, e cada um mate o seu irmão, e cada um o seu companheiro, e cada um o seu vizinho'.”
27Người truyền cho họ rằng: Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, có phán như vầy: Mỗi người trong các ngươi hãy đeo gươm bên mình, đi qua đi lại trong trại quân, từ cửa nầy đến cửa kia, và mỗi người hãy giết anh em, bạn hữu, và kẻ lân cận mình.
28Os filhos de Levi fizeram conforme a palavra de Moisés. Cerca de três mil homens do povo caíram naquele dia.
28Dân Lê-vi bèn làm y như lời Môi-se; trong ngày đó có chừng ba ngàn người bị chết.
29Moisés disse: “Consagrem-se hoje ao SENHOR, pois cada um foi contra o seu filho e contra o seu irmão, para que ele lhes conceda uma bênção hoje.”
29Vả, Môi-se đã truyền rằng: Ngày nay mỗi người trong vòng các ngươi hãy dâng tay mình cho Đức Giê-hô-va, chẳng sá chi đến con trai hay là anh em mình, hầu cho các ngươi được ơn phước vậy.
30No dia seguinte, Moisés disse ao povo: “Vocês cometeram um grande pecado. Agora subirei ao SENHOR. Talvez eu possa fazer expiação pelo pecado de vocês.”
30Ngày mai, Môi-se nói cùng dân sự rằng: Các ngươi đã phạm một tội rất trọng; song bây giờ ta lên đến Đức Giê-hô-va, có lẽ ta sẽ được chuộc tội các ngươi chăng.
31Moisés voltou ao SENHOR e disse: “Ah, este povo cometeu um grande pecado, e fizeram para si deuses de ouro.
31Vậy, Môi-se trở lên đến Đức Giê-hô-va mà thưa rằng: Oâi! dân sự nầy có phạm một tội trọng, làm cho mình các thần bằng vàng;
32Agora, porém, se quiseres, perdoa o pecado deles — mas se não, por favor, risca-me do teu livro que escreveste.”
32nhưng bây giờ xin Chúa tha tội cho họ! Bằng không, hãy xóa tên tôi khỏi sách Ngài đã chép đi.
33O SENHOR disse a Moisés: “Aquele que pecou contra mim, eu o riscarei do meu livro.
33Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Kẻ nào phạm tội cùng ta, ta sẽ xóa nó khỏi sách ta.
34Agora vá, guie o povo para o lugar do qual lhe falei. Eis que o meu anjo irá adiante de você. No entanto, no dia em que eu punir, eu os punirei pelo seu pecado.”
34Bây giờ, hãy đi, dẫn dân sự đến nơi ta đã chỉ phán. Nầy thiên sứ ta sẽ đi trước ngươi; nhưng ngày nào ta hình phạt thì sẽ phạt tội chúng nó.
35O SENHOR feriu o povo, por causa do que fizeram com o bezerro que Arão fabricou.
35Đức Giê-hô-va hành phạt dân sự là vậy, vì dân sự là gốc phạm về tượng bò vàng mà A-rôn đã làm ra.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.