Khải 14
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Daničić–Karadžić Bible (1868), Cyrillic
1Tôi nhìn xem, thấy Chiên Con đứng trên núi Si-ôn, và với Ngài có mười bốn vạn bốn ngàn người đều có danh Chiên Con và danh Cha Chiên Con ghi trên trán mình.
1И видех, и гле, Јагње стајаше на гори сионској, и с Њим сто и четрдесет и четири хиљаде, који имаху име Оца Његовог написано на челима својим.
2Tôi nghe một tiếng từ trên trời xuống, y như tiếng nhiều nước, và như tiếng sấm lớn; tiếng mà tôi nghe đó như tiếng đàn cầm mà người đánh đàn gảy vậy:
2И чух глас с неба као глас вода многих, и као глас грома великог; и чух глас гудача који гуђаху у гусле своје.
3chúng hát một bài ca mới trước ngôi, trước bốn con sanh vật và các trưởng lão. Không ai học được bài ca đó, họa chăng chỉ có mười bốn vạn bốn ngàn người đã được chuộc khỏi đất mà thôi.
3И певаху као нову песму пред престолом и пред четири животиње и пред старешинама: и нико не могаше научити песме, осим оних сто и четрдесет и четири хиљаде који су откупљени са земље.
4Những kẻ ấy chưa bị ô uế với đàn bà, vì còn trinh khiết. Chiên Con đi đâu, những kẻ nầy theo đó. Những kẻ đó đã được chuộc từ trong loài người, để làm trái đầu mùa cho Đức Chúa Trời và Chiên Con;
4Ово су који се не опоганише са женама, јер су девственици, они иду за Јагњетом куд год оно пође. Ови су купљени од људи, првенци Богу и Јагњету.
5trong miệng chúng chẳng có lời nói dối nào hết, cũng không có dấu vết gì.
5И у њиховим устима не нађе се превара, јер су без мане пред престолом Божијим.
6Điều ấy đoạn, tôi thấy một vị thiên sứ khác bay giữa trời, có Tin Lành đời đời, đặng rao truyền cho dân cư trên đất, cho mọi nước, mọi chi phái, mọi tiếng, và mọi dân tộc.
6И видех другог анђела где лети посред неба, који имаше вечно јеванђеље да објави онима који живе на земљи, и сваком племену, и језику и колену и народу.
7Người cất tiếng lớn nói rằng: Hãy kính sợ Đức Chúa Trời, và tôn vinh Ngài, vì giờ phán xét của Ngài đã đến; hãy thờ phượng Đấng dựng nên trời, đất, biển và các suối nước.
7И говораше великим гласом: Бојте се Бога, и подајте Му славу, јер дође час суда Његовог; и поклоните се Ономе који је створио небо и земљу и море и изворе водене.
8Một vị thiên sứ khác, là vị thứ hai, theo sau mà rằng: Ba-by-lôn lớn kia, đã đổ rồi, đã đổ rồi, vì nó có cho các dân tộc uống rượu tà dâm thạnh nộ của nó.
8И други анђео за њим иде говорећи: Паде, паде Вавилон град велики: јер отровним вином курварства свог напоји све народе.
9Lại một vị thiên sứ khác, là vị thứ ba, theo sau, nói lớn tiếng mà rằng: Nếu ai thờ phượng con thú cũng tượng nó, và chịu dấu nó ghi trên trán hay trên tay,
9И трећи анђео за њим иде говорећи гласом великим: Ко се год поклони звери и икони њеној, и прими жиг на чело своје или на руку своју,
10thì người ấy cũng vậy, sẽ uống rượu thạnh nộ không pha của Đức Chúa Trời rót trong chén thạnh nộ Ngài; và sẽ chịu đau đớn trong lửa và diêm ở trước mặt các thiên sứ thánh và trước mặt Chiên Con.
10и он ће пити од вина гнева Божијег, које је непомешано уточено у чашу гнева Његовог, и биће мучен огњем и сумпором пред анђелима светима и пред Јагњетом.
11Khói của sự đau đớn chúng nó bay lên đời đời. Những kẻ thờ lạy con thú và tượng nó, cùng những kẻ chịu dấu của tên nó ghi, thì cả ngày lẫn đêm không lúc nào được yên nghỉ.
11И дим мучења њиховог излазиће ва век века; и неће имати мира дан и ноћ који се поклањају звери и икони њеној, и који примају жиг имена њеног.
12Đây tỏ ra sự nhịn nhục của các thánh đồ: chúng giữ điều răn của Đức Chúa Trời và giữ lòng tin Đức Chúa Jêsus.
12Овде је трпљење светих, који држе заповести Божије и веру Исусову.
13Tôi nghe có tiếng đến từ trên trời rằng: Hãy viết lấy: Từ rày, phước thay cho những người chết là người chết trong Chúa! Đức Thánh Linh phán: Phải, vì những người ấy nghỉ ngơi khỏi sự khó nhọc, và việc làm mình theo sau.
13И чух глас с неба где ми говори: Напиши: Благо мртвима који умиру у Господу од сад. Да, говори Дух, да почину од трудова својих; јер дела њихова иду за њима.
14Tôi nhìn xem, thấy một đám mây trắng; có kẻ giống như một con người ngồi trên mây, đầu đội mão triều thiên vàng, tay cầm lưỡi liềm bén.
14И видех, и гле, облак бео, и на облаку сеђаше као Син човечији, и имаше на глави својој круну златну, и у руци својој срп оштар.
15Có một thiên sứ khác ở đền thờ đi ra, cất tiếng lớn kêu Đấng ngồi trên mây rằng: Hãy quăng lưỡi liềm xuống và gặt đi; vì giờ gặt hái đã đến, mùa màng dưới đất đã chín rồi.
15И други анђео изиђе из цркве вичући великим гласом Ономе што седи на облаку: Замахни српом својим и жњи, јер дође време да се жње, јер се осуши жито земаљско.
16Đấng ngồi trên mây bèn quăng lưỡi liềm mình xuống đất, và dưới đất đều bị gặt.
16И Онај што сеђаше на облаку баци срп свој на земљу, и пожњевена би земља.
17Một vị thiên sứ khác ở đền thờ trên trời đi ra, cũng cầm một cái lưỡi liềm bén.
17И други анђео изиђе из цркве што је на небу, и имаше и он срп оштар.
18Rồi một vị thiên sứ khác nữa có quyền cai trị lửa, từ bàn thờ đi ra, lấy tiếng lớn kêu vị thiên sứ cầm lưỡi liềm bén mà rằng: Hãy quăng lưỡi liềm bén của ngươi xuống và hái những chùm nho ở dưới đất đi, vì nho đã chín rồi.
18И други анђео изиђе из олтара, који имаше област над огњем, и повика с великом виком ономе који имаше срп оштри, говорећи: Замахни српом својим оштрим, и одрежи грожђе винограда земаљског; јер већ сазреше зрна његова.
19Thiên sứ quăng lưỡi liềm xuống đất, cắt vườn nho ở đất và ném nho vào thùng lớn thạnh nộ của Đức Chúa Trời.
19И баци анђео срп свој на земљу, и обра виноград земаљски, и метну у кацу великог гнева Божијег.
20Thùng ấy phải giày đạp tại ngoài thành; rồi có huyết ở thùng chảy ra, huyết đó lên đến chỗ khớp ngựa, dài một quãng là một ngàn sáu trăm dặm.
20И оточи се каца изван града, и изиђе крв из каце, тја до узда коњима, хиљаду и шест стотина потркалишта.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.