Lu 13
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Bíblia Portuguesa Mundial (Brazilian Portuguese)
1Cũng lúc ấy, có mấy người ở đó thuật cho Đức Chúa Jêsus nghe về việc Phi-lát giết mấy người Ga-li-lê, lấy huyết trộn lộn với của lễ họ.
1Naquele mesmo tempo, estavam presentes alguns que lhe falaram sobre os galileus cujo sangue Pilatos havia misturado com os sacrifícios deles.
2Đức Chúa Jêsus cất tiếng đáp rằng: Các ngươi tưởng mấy người đó vì chịu khốn nạn dường ấy, có tội lỗi trọng hơn mọi người Ga-li-lê khác sao?
2Jesus lhes respondeu: “Vocês pensam que esses galileus eram mais pecadores do que todos os outros galileus, por terem sofrido tais coisas?
3Ta nói cùng các ngươi, không phải; song nếu các ngươi chẳng ăn năn, thì hết thảy sẽ bị hư mất như vậy.
3Eu lhes digo que não; mas, a menos que se arrependam, todos vocês perecerão da mesma forma.
4Hay là mười tám người bị tháp Si-lô-ê ngã xuống đè chết kia, các ngươi tưởng họ có tội lỗi trọng hơn mọi kẻ khác ở thành Giê-ru-sa-lem sao?
4Ou aqueles dezoito sobre os quais caiu a torre de Siloé e os matou — vocês pensam que eles eram mais culpados do que todos os homens que habitam em Jerusalém?
5Ta nói cùng các ngươi, không phải; nhưng nếu các ngươi chẳng ăn năn, thì hết thảy cũng sẽ bị hư mất như vậy.
5Eu lhes digo que não; mas, a menos que se arrependam, todos vocês perecerão da mesma forma.”
6Ngài lại phán thí dụ nầy: Người kia có một cây vả trồng trong vườn nho mình, đến hái trái mà không thấy;
6Então ele contou esta parábola: “Certo homem tinha uma figueira plantada em sua vinha; e foi procurar fruto nela, e não achou nenhum.
7bèn nói cùng kẻ trồng nho rằng: Kìa đã ba năm nay ta đến hái trái nơi cây vả nầy mà không thấy: hãy đốn nó đi; cớ sao nó choán đất vô ích?
7Ele disse ao viticultor: ‘Eis que há três anos venho procurar fruto nesta figueira, e não acho nenhum. Corte-a! Por que ela ainda ocupa a terra inutilmente?’
8Kẻ trồng nho rằng: Thưa chúa, xin để lại năm nầy nữa, tôi sẽ đào đất xung quanh nó rồi đổ phân vào.
8Ele respondeu: ‘Senhor, deixe-a por este ano ainda, até que eu cave ao redor dela e coloque adubo.
9Có lẽ về sau nó sẽ ra trái; bằng không, chúa sẽ đốn.
9Se der fruto, muito bem; mas se não, depois disso, o senhor poderá cortá-la.’”
10Một ngày Sa-bát, Đức Chúa Jêsus giảng dạy trong nhà hội kia.
10Ele estava ensinando em uma das sinagogas no dia de sábado.
11Vả, tại đó, có người đàn bà mắc quỉ ám, phải đau liệt đã mười tám năm; cong lưng chẳng đứng thẳng được.
11Eis que estava ali uma mulher que tinha um espírito de enfermidade havia dezoito anos. Ela andava encurvada e de forma alguma conseguia se endireitar.
12Đức Chúa Jêsus vừa thấy, gọi mà phán rằng: Hỡi đàn bà kia, ngươi đã được cứu khỏi bịnh;
12Quando Jesus a viu, chamou-a e lhe disse: “Mulher, você está livre da sua enfermidade.”
13Ngài bèn đặt tay trên mình người. Tức thì, người đứng thẳng lên được, và ngợi khen Đức Chúa Trời.
13Ele impôs as mãos sobre ela, e imediatamente ela se endireitou e glorificou a Deus.
14Bấy giờ người cai nhà hội nhân Đức Chúa Jêsus đã chữa bịnh trong ngày Sa-bát, thì giận mà cất tiếng nói cùng đoàn dân rằng: Có sáu ngày phải làm việc, vậy hãy đến trong những ngày ấy để được chữa cho, đừng đến trong ngày Sa-bát.
14O chefe da sinagoga, indignado porque Jesus havia curado no sábado, disse à multidão: “Há seis dias em que os homens devem trabalhar. Portanto, venham nesses dias para serem curados, e não no dia de sábado!”
15Nhưng Chúa đáp rằng: Hỡi kẻ giả hình, mỗi người trong các ngươi, đang ngày Sa-bát, há không mở bò hoặc lừa mình ra khỏi máng cỏ, dắt đi uống nước hay sao?
15Portanto, o Senhor lhe respondeu: “Hipócritas! Cada um de vocês não solta do estábulo o seu boi ou o seu jumento no sábado, e o leva para beber água?
16Con gái của Aùp-ra-ham nầy, quỉ Sa-tan đã cầm buộc mười tám năm, há chẳng nên mở trói cho nó trong ngày Sa-bát sao?
16E não deveria esta mulher, sendo uma filha de Abraão, a quem Satanás manteve presa por dezoito longos anos, ser liberta desse cativeiro no dia de sábado?”
17Ngài phán như vậy, thì các kẻ thù nghịch cùng Ngài đều hổ thẹn, và cả dân chúng vui mừng về mọi việc vinh hiển Ngài đã làm.
17Ao dizer ele estas coisas, todos os seus adversários ficaram frustrados; e toda a multidão se alegrava por todas as coisas gloriosas que eram feitas por ele.
18Vậy, Đức Chúa Jêsus phán rằng: Nước Đức Chúa Trời giống như gì, ta lấy chi mà sánh với?
18Ele disse: “A que é semelhante o Reino de Deus? A que o compararei?
19Nước ấy giống như một hột cải, người kia lấy gieo trong vườn; nó mọc lên trở nên cây cối, và chim trời làm ổ trên nhành.
19É semelhante a um grão de mostarda que um homem pegou e plantou em sua própria horta. Ele cresceu e se tornou uma grande árvore, e as aves do céu habitam em seus ramos.”
20Ngài lại phán rằng: Ta sẽ sánh nước Đức Chúa Trời với gì?
20Novamente ele disse: “A que compararei o Reino de Deus?
21Nước ấy giống như men, người đàn bà kia lấy trộn vào ba đấu bột, cho đến chừng bột dậy cả lên.
21É semelhante ao fermento que uma mulher pegou e escondeu em três medidas de farinha, até que tudo ficasse levedado.”
22Đức Chúa Jêsus trải qua các thành các làng, vừa dạy dỗ vừa đi thẳng tới thành Giê-ru-sa-lem.
22Ele seguia o seu caminho por cidades e aldeias, ensinando e viajando em direção a Jerusalém.
23Có người thưa Ngài rằng: Lạy Chúa, có phải chỉ ít kẻ được cứu chăng?
23Alguém lhe perguntou: “Senhor, são poucos os que são salvos?” Ele lhes disse:
24Ngài đáp rằng: Hãy gắng sức vào cửa hẹp, vì, ta nói cùng các ngươi, nhiều người sẽ tìm cách vào mà không vào được.
24“Esforcem-se para entrar pela porta estreita, pois muitos, eu lhes digo, procurarão entrar e não conseguirão.
25Khi chủ nhà chờ dậy, đóng cửa lại rồi, các ngươi ở ngoài gõ cửa kêu rằng: Lạy Chúa, xin mở cho chúng tôi! Chủ sẽ trả lời rằng: Ta không biết các ngươi đến từ đâu.
25Quando o dono da casa se levantar e fechar a porta, e vocês começarem a ficar do lado de fora e a bater na porta, dizendo: ‘Senhor, Senhor, abra para nós!’, então ele responderá e lhes dirá: ‘Não os conheço, nem sei de onde vocês são.’
26Bấy giờ các ngươi sẽ thưa rằng: Chúng tôi đã ăn uống trước mặt Chúa, và Chúa đã dạy dỗ trong các chợ chúng tôi.
26Então vocês começarão a dizer: ‘Comemos e bebemos na sua presença, e o senhor ensinou em nossas ruas.’
27Chủ lại sẽ trả lời rằng: Ta nói cùng các ngươi, không biết các ngươi đến từ đâu; hết thảy những kẻ làm dữ kia, hãy lui ra khỏi ta!
27Ele dirá: ‘Eu lhes digo que não sei de onde vocês são. Afastem-se de mim, todos vocês, praticantes da iniquidade.’
28Khi ấy, các ngươi thấy Aùp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp, cùng hết thảy các đấng tiên tri đều ở trong nước Đức Chúa Trời, còn các ngươi sẽ bị quăng ra ngoài, là nơi có khóc lóc và nghiến răng.
28Ali haverá choro e ranger de dentes, quando vocês virem Abraão, Isaque, Jacó e todos os profetas no Reino de Deus, enquanto vocês mesmos serão lançados para fora.
29Lại từ Đông Tây Nam Bắc, người ta sẽ đến mà ngồi bàn ở trong nước Đức Chúa Trời.
29Virão pessoas do oriente, do ocidente, do norte e do sul e se assentarão no Reino de Deus.
30Nầy, khi ấy có kẻ rốt sẽ nên đầu, kẻ đầu sẽ là rốt.
30Eis que há alguns que são os últimos que serão os primeiros, e há alguns que são os primeiros que serão os últimos.”
31Cũng trong lúc đó, có mấy người Pha-ri-si đến thưa Ngài rằng: Thầy nên bỏ chỗ nầy mà đi, vì vua Hê-rốt muốn giết thầy.
31Naquele mesmo dia, alguns fariseus se aproximaram, dizendo-lhe: “Saia daqui e vá embora, pois Herodes quer matá-lo.”
32Ngài đáp rằng: Hãy đi nói với con chồn cáo ấy rằng: Ngày nay, ngày mai, ta đuổi quỉ chữa bịnh, đến ngày thứ ba, thì đời ta sẽ xong rồi.
32Ele lhes disse: “Vão e digam àquela raposa: ‘Eis que expulso demônios e realizo curas hoje e amanhã, e no terceiro dia completarei a minha missão.
33Nhưng ngày nay, ngày mai, và ngày kia ta phải đi, vì không có lẽ một đấng tiên tri phải chết ngoài thành Giê-ru-sa-lem.
33No entanto, devo seguir o meu caminho hoje, amanhã e depois de amanhã, pois não pode ser que um profeta pereça fora de Jerusalém.’
34Hỡi Giê-ru-sa-lem, Giê-ru-sa-lem, ngươi giết các tiên tri, và quăng đá các đấng chịu sai đến cùng ngươi, bao phen ta muốn nhóm họp con cái ngươi, như gà mái túc và ấp con mình dưới cánh, mà các ngươi chẳng muốn!
34“Jerusalém, Jerusalém, você que mata os profetas e apedreja os que lhe são enviados! Quantas vezes eu quis ajuntar os seus filhos, como a galinha ajunta a sua própria ninhada debaixo das asas, e vocês não quiseram!
35Nầy, nhà các ngươi sẽ bỏ hoang. Ta nói cùng các ngươi, các ngươi không còn thấy ta nữa cho đến chừng nào sẽ nói rằng: Phước cho Đấng nhân danh Chúa mà đến!
35Eis que a casa de vocês lhes ficará deserta. Eu lhes digo que vocês não me verão até que digam: ‘Bendito é o que vem em nome do Senhor!’”
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.