Giê
Chapter 14
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Bíblia Portuguesa …
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Bíblia Portuguesa Mundial (Brazilian Portuguese)
1Có lời Đức Giê-hô-va phán cùng Giê-rê-mi về sự hạn hán.
1Esta é a palavra do SENHOR que veio a Jeremias a respeito da seca:
2Giu-đa đang sầu thảm, cửa thành suy bại, chúng nó đều mặc áo đen ngồi trên đất; và tiếng kêu của Giê-ru-sa-lem vang lên.
2“Judá está de luto, e as suas portas definham. Eles se assentam no chão, de luto. O clamor de Jerusalém sobe.
3Những người sang sai kẻ hèn đi tìm nước; đi đến hồ và tìm không được, xách bình không mà trở về; thẹn thuồng xấu hổ, và che đầu lại.
3Seus nobres mandam seus servos às águas. Eles vão às cisternas, e não encontram água. Eles voltam com seus cântaros vazios. Ficam decepcionados e confundidos, e cobrem as suas cabeças.
4Vì cớ đất đều nẻ hết, bởi không có mưa xuống trong xứ, người cầm cày xấu hổ và trùm đầu lại.
4Por causa do solo que está rachado, porque não houve chuva na terra, os lavradores estão decepcionados. Eles cobrem as suas cabeças.
5Nai cái đẻ con ra trong đồng và bỏ đi, vì không có cỏ.
5Sim, até a corça no campo dá à luz e abandona a sua cria, porque não há pasto.
6Những lừa rừng đứng trên các gò trọi, hít hơi như chó đồng, vì không cỏ nên mắt lòa.
6Os jumentos selvagens ficam nas colinas áridas. Eles ofegam por ar como os chacais. Seus olhos desfalecem, porque não há vegetação.
7Hỡi Đức Giê-hô-va, dầu tội ác chúng tôi làm chứng nghịch cùng chúng tôi, xin Ngài vì danh mình mà làm! Sự bội nghịch của chúng tôi nhiều lắm; chúng tôi đã phạm tội nghịch cùng Ngài.
7Embora as nossas iniquidades testifiquem contra nós, aja por amor do seu nome, SENHOR; pois as nossas rebeliões são muitas. Nós pecamos contra o Senhor.
8Ngài là sự trông cậy của Y-sơ-ra-ên, là Đấng cứu trong khi hoạn nạn, sao Ngài như một người trú ngụ ở trong đất, như người bộ hành căng trại ngủ đậu một đêm?
8Ó Esperança de Israel, seu Salvador no tempo da angústia, por que o Senhor seria como um estrangeiro na terra, e como um viajante que se desvia apenas para passar a noite?
9Sao Ngài như người thất kinh, như người mạnh dạn chẳng có thể giải cứu? Hỡi Đức Giê-hô-va! dầu vậy, Ngài vẫn ở giữa chúng tôi! Chúng tôi được xưng bằng danh Ngài, xin đừng lìa bỏ chúng tôi!
9Por que seria como um homem assustado, como um guerreiro que não pode salvar? Contudo, o Senhor está no meio de nós, e nós somos chamados pelo seu nome. Não nos abandone.”
10Đức Giê-hô-va phán với dân nầy như vầy: Chúng nó ưa đi dông dài, chẳng ngăn cấm chân mình, nên Đức Giê-hô-va chẳng nhận lấy chúng nó. Bây giờ Ngài nhớ đến sự hung ác chúng nó và thăm phạt tội lỗi.
10Assim diz o SENHOR a este povo: “Eles amaram vagar por aí. Não contiveram os seus pés. Portanto, o SENHOR não os aceita. Agora ele se lembrará da iniquidade deles, e os punirá por seus pecados.”
11Đức Giê-hô-va lại phán cùng tôi rằng: Chớ cầu sự lành cho dân nầy.
11O SENHOR me disse: “Não ore pelo bem deste povo.
12Khi chúng nó kiêng ăn, ta sẽ chẳng nghe lời khấn nguyện của chúng nó; khi chúng nó dâng của lễ thiêu và của lễ chay, ta chẳng nhậm đâu; nhưng ta sẽ diệt chúng nó bởi gươm dao, đói kém, và ôn dịch.
12Quando eles jejuarem, não ouvirei o seu clamor; e quando oferecerem holocausto e oferta de cereais, não os aceitarei; mas eu os consumirei pela espada, pela fome e pela peste.”
13Tôi bèn thưa rằng: Oâi! hỡi Chúa Giê-hô-va, nầy các tiên tri bảo họ rằng: Các ngươi sẽ không thấy gươm dao, sẽ chẳng có đói kém; nhưng ta sẽ ban sự bình an bần lâu cho các ngươi ở trong miền nầy.
13Então eu disse: “Ah, Senhor DEUS! Eis que os profetas lhes dizem: 'Vocês não verão a espada, nem terão fome; mas eu lhes darei paz garantida neste lugar'.”
14Đức Giê-hô-va lại phán cùng tôi rằng: Aáy là những lời nói dối, mà các tiên tri đó nhân danh ta truyền ra. Ta chẳng từng sai họ đi, chẳng từng truyền lịnh và chẳng từng phán cùng họ. Họ nói tiên tri đó là theo những sự hiện thấy giả dối, sự bói khoa, sự hư không, và sự lừa gạt bởi lòng riêng mình!
14Então o SENHOR me disse: “Os profetas profetizam mentiras em meu nome. Eu não os enviei. Eu não lhes dei ordem. Eu não falei com eles. Eles profetizam para vocês uma visão mentirosa, adivinhação, uma coisa inútil e o engano do seu próprio coração.
15Vậy nên, Đức Giê-hô-va phán về những kẻ tiên tri chẳng bởi ta sai đến, mà nói tiên tri nhân danh ta, rằng: Trong đất nầy sẽ chẳng có gươm dao và đói kém! Chính các tiên tri đó sẽ bị diệt bởi gươm dao và đói kém.
15Portanto, assim diz o SENHOR a respeito dos profetas que profetizam em meu nome, embora eu não os tenha enviado, e que dizem: 'Espada e fome não haverá nesta terra'. Esses profetas serão consumidos pela espada e pela fome.
16Những kẻ mà họ truyền lời tiên tri ấy cho, sẽ cùng vợ, con trai, con gái mình vì gươm dao đói kém bị ném ngoài đường phố Giê-ru-sa-lem, chẳng có ai chôn cất, vì ta sẽ khiến điều ác chúng nó đã làm lại đổ về mình!
16O povo a quem eles profetizam será lançado nas ruas de Jerusalém por causa da fome e da espada. Não terão ninguém para sepultá-los — nem a eles, nem às suas esposas, nem aos seus filhos, nem às suas filhas, pois derramarei sobre eles a sua própria maldade.
17Ngươi khá bảo cho chúng nó lời nầy: Mắt ta rơi lụy đêm ngày chẳng thôi; vì gái đồng trinh của dân ta bị tồi tàn, bị thương rất là đau đớn.
17“Você dirá a eles esta palavra: “'Que os meus olhos derramem lágrimas de noite e de dia, e que elas não cessem; pois a virgem filha do meu povo foi despedaçada com um grande golpe, com uma ferida muito grave.
18Nếu ta ra nơi đồng ruộng, thì thấy những người bị gươm đâm; nếu ta vào trong thành, thì thấy những kẻ đau ốm vì sự đói kém. Chính các đấng tiên tri và các thầy tế lễ đi dạo trong đất mình, cũng không có sự hiểu biết.
18Se eu saio ao campo, eis os mortos à espada! Se eu entro na cidade, eis os que estão doentes de fome! Pois tanto o profeta quanto o sacerdote vagam pela terra, e não têm conhecimento.'”
19Vậy thì Ngài đã bỏ hết Giu-đa sao? Lòng Ngài đã gớm ghét Si-ôn sao? Làm sao Ngài đã đánh chúng tôi, không phương chữa lành? Đang đợi sự bình an mà chẳng có sự lành; đang trông kỳ lành bịnh, mà gặp sự kinh hãi.
19O Senhor rejeitou totalmente a Judá? A sua alma detestou a Sião? Por que nos feriu, a ponto de não haver cura para nós? Esperávamos a paz, mas nenhum bem veio; e por um tempo de cura, e eis a consternação!
20Hỡi Đức Giê-hô-va, chúng tôi nhìn biết điều ác chúng tôi và tội lỗi của tổ phụ chúng tôi, vì chúng tôi đều phạm tội nghịch cùng Ngài.
20Nós reconhecemos, SENHOR, a nossa maldade, e a iniquidade dos nossos pais; pois pecamos contra o Senhor.
21Xin hãy vì danh Ngài, chớ chán chúng tôi, và chớ để nhục ngôi vinh hiển của Ngài! Xin Ngài nhớ lời giao ước với chúng tôi mà chớ hủy.
21Não nos despreze, por amor do seu nome. Não desonre o trono da sua glória. Lembre-se, e não quebre a sua aliança conosco.
22Trong những sự hư vô của dân ngoại, há có quyền làm mưa được sao? có phải từ trời xuống mưa được chăng? Hỡi Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi, Ngài há chẳng phải là Đấng đó? Vậy nên chúng tôi sẽ trông đợi Ngài, vì Ngài đã làm ra mọi sự ấy.
22Há algum entre os ídolos vãos das nações que possa fazer chover? Ou podem os céus dar chuvas? Não é o Senhor, ó SENHOR nosso Deus? Portanto, nós esperaremos no Senhor; pois o Senhor fez todas estas coisas.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.