E-xơ-ra
Chapter 9

E-xơ-ra

Vietnamese Bible (1923 t…
vs Bíblia Portuguesa …
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Bíblia Portuguesa Mundial (Brazilian Portuguese)
1Sau các việc đó, các quan trưởng đến gần nói với ta rằng: Dân Y-sơ-ra-ên, những thầy tế lễ, và người Lê-vi chẳng có phân rẽ với các dân tộc của xứ nầy; họ bắt chước theo sự gớm ghiếc của dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân Phê-rê-sít, dân Giê-bu-sít, dân Am-môn, dân Mô-áp, dân Ê-díp-tô, và dân A-mô-rít.
1Ora, quando essas coisas foram concluídas, os líderes se aproximaram de mim, dizendo: “O povo de Israel, os sacerdotes e os levitas não se separaram dos povos das terras, seguindo as suas abominações, a saber, as dos cananeus, dos heteus, dos ferezeus, dos jebuseus, dos amonitas, dos moabitas, dos egípcios e dos amorreus.
2Vì chúng có lấy những con gái họ làm vợ của mình, và làm vợ con trai mình. Dòng dõi thánh đã pha lộn như vậy với dân tộc của các xứ nầy; thật các trưởng và quan cai vốn là kẻ đầu phạm tội dường ấy.
2Pois eles tomaram das filhas deles para si mesmos e para os seus filhos, de modo que a descendência santa se misturou com os povos das terras. Sim, a mão dos líderes e dos governantes tem sido a principal nesta transgressão.”
3Khi ta nghe các lời ấy, ta bèn xé áo trong và áo tơi mình, nhổ tóc đầu và lông râu, rồi ngồi buồn bã.
3Quando ouvi isso, rasguei a minha túnica e o meu manto, arranquei os cabelos da minha cabeça e da minha barba, e me assentei perplexo.
4Những người vâng kỉnh các lời phán Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đều hiệp lại chung quanh ta, sợ hãi về tội trọng của các người đã bị bắt làm phu tù được về có phạm; còn ta ngồi kinh-hoảng cho đến khi dâng của lễ buổi chiều.
4Então todos os que tremiam diante das palavras do Deus de Israel se reuniram a mim por causa da transgressão dos exilados; e eu permaneci assentado perplexo até a oferta da tarde.
5Đến giờ dâng của lễ buổi chiều, ta đứng dậy khỏi nơi khổ nhục mình, áo trong và áo tơi ta xé rách; ta quì gối xuống, giơ tay ra hướng về Giê-hô-va Đức Chúa Trời ta,
5Na hora da oferta da tarde, eu me levantei da minha humilhação, com a minha túnica e o meu manto rasgados; caí de joelhos e estendi as minhas mãos ao SENHOR, meu Deus;
6mà thưa với Ngài rằng: è, Đức Chúa Trời tôi! tôi hổ ngươi thẹn mặt, chẳng dám ngước mặt lên Ngài, là Đức Chúa Trời tôi; vì gian ác chúng tôi đã thêm nhiều quá đầu chúng tôi, và tội chúng tôi cao lớn tận trời.
6e eu disse: “Meu Deus, estou envergonhado e coro de vergonha ao levantar o meu rosto para o Senhor, meu Deus, pois as nossas iniquidades se multiplicaram sobre a nossa cabeça, e a nossa culpa cresceu até os céus.
7Từ ngày tổ phụ chúng tôi cho đến ngày nay, chúng tôi đã cực-cùng phạm tội; vì cớ tội ác mình, nên chúng tôi, các vua chúng tôi, và những thầy tế lễ chúng tôi, đều bị phó vào tay các vua những xứ, bị gươm, bị bắt làm phu tù, bị cướp giựt, và bị sỉ nhục, y như điều đó đã có ngày nay.
7Desde os dias de nossos pais temos sido extremamente culpados até o dia de hoje; e por causa das nossas iniquidades nós, nossos reis e nossos sacerdotes fomos entregues nas mãos dos reis das terras, à espada, ao cativeiro, ao saque e à confusão de rosto, como se vê neste dia.
8Song bây giờ, Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng tôi tạm làm ơn cho chúng tôi, để một phần dư lại của chúng tôi thoát khỏi, và ban cho chúng tôi một cái đinh ở trong chỗ thánh nầy; hầu cho Đức Chúa Trời chúng tôi soi sáng con mắt chúng tôi và khiến cho chúng tôi ở giữa sự nô lệ mình được dấy lên một chút.
8Agora, por um breve momento, a graça foi demonstrada da parte do SENHOR, nosso Deus, para nos deixar um remanescente que escape, e para nos dar uma estaca em seu santo lugar, para que o nosso Deus ilumine os nossos olhos e nos reviva um pouco em nossa escravidão.
9Vì chúng tôi vốn là kẻ nô lệ; nhưng Đức Chúa Trời của chúng tôi không từ bỏ chúng tôi trong sự nô lệ chúng tôi. Ngài đã khiến cho chúng tôi được ơn trước mặt các vua Phe-rơ-sơ, hầu ban cho chúng tôi sự dấy lên đặng cất lại đền của Đức Chúa Trời chúng tôi và xây lên lại những nơi hư nát của nó, cùng ban cho chúng tôi một nơi ở tại trong xứ Giu-đa và thành Giê-ru-sa-lem.
9Pois somos escravos; contudo, o nosso Deus não nos desamparou em nossa escravidão, mas estendeu o seu amor leal sobre nós à vista dos reis da Pérsia, para nos reviver, para levantar a casa do nosso Deus e reparar as suas ruínas, e para nos dar um muro em Judá e em Jerusalém.
10Bây giờ, hỡi Đức Chúa Trời chúng tôi ôi! sau những điều đó, chúng tôi sẽ nói làm sao? Vì chúng tôi đã lìa bỏ những điều răn.
10“Agora, nosso Deus, o que diremos depois disso? Pois nós abandonamos os seus mandamentos,
11Ngài đã cậy các tiên tri, là tôi tớ Ngài, mà phán dạy chúng tôi, rằng: Xứ mà các ngươi sẽ vào đặng nhận lấy đó, là một xứ bị ô uế tại sự ô uế của các dân tộc nó, và tại sự gớm ghiếc của chúng nó đã làm cho xứ ấy đầy dẫy từ đầu nầy chí đầu kia.
11que o Senhor ordenou por meio dos seus servos, os profetas, dizendo: 'A terra em que vocês estão entrando para possuir é uma terra impura por causa da impureza dos povos das terras, por causa das suas abominações, que a encheram de uma extremidade à outra com a sua imundície.
12Vì vậy, cho nên chớ gả con gái các ngươi cho con trai chúng nó, và đừng cưới con gái họ cho con trai của các ngươi; chớ hề tìm kiếm sự thạnh lợi hoặc sự bình an của chúng nó, để các ngươi trở nên mạnh dạn, ăn hoa lợi của xứ, và để nó lại cho các con trai mình làm cơ nghiệp đời đời.
12Agora, portanto, não deem as suas filhas aos filhos deles. Não tomem as filhas deles para os seus filhos, nem busquem a paz ou a prosperidade deles jamais, para que vocês sejam fortes e comam o melhor da terra, e a deixem como herança para os seus filhos para sempre.'
13Vả, sau những tai họa đã giáng trên chúng tôi, tại các sự hành-ác và tội trọng của chúng tôi, mà lại, hỡi Đức Chúa Trời của chúng tôi ôi! thật Chúa chẳng có phạt chúng tôi cho đáng như tội chúng tôi, và đã ban cho chúng tôi được phần sót lại dường nầy;
13“Depois de tudo o que nos sobreveio por causa das nossas más obras e da nossa grande culpa, visto que o Senhor, nosso Deus, nos castigou menos do que as nossas iniquidades merecem, e nos deu um remanescente como este,
14vậy có lẽ nào chúng tôi lại phạm các điều răn của Chúa nữa, kết bạn với các dân tộc vẫn làm những sự gớm ghiếc nầy sao? Vậy thì cơn thạnh nộ Chúa há sẽ chẳng nổi lên cùng chúng tôi, tiêu diệt chúng tôi, đến đỗi chẳng còn phần sót lại, cũng không ai thoát khỏi hay sao?
14tornaremos nós a quebrar os seus mandamentos e a nos unir aos povos que cometem essas abominações? O Senhor não se iraria contra nós até nos consumir, de modo que não houvesse remanescente, nem quem escapasse?
15Hỡi Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên ôi! Chúa vốn là công bình; còn chúng tôi, chỉ một số ít người được thoát khỏi, như đã thấy ngày nay: nầy chúng tôi ở trước mặt Chúa, mắc tội lỗi nhiều; nhân đó, chẳng ai có thế đứng nổi trước mặt Ngài.
15SENHOR, Deus de Israel, o Senhor é justo; pois fomos deixados como um remanescente que escapou, como se vê hoje. Eis que estamos diante do Senhor em nossa culpa; pois ninguém pode permanecer diante do Senhor por causa disso.”

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.