I Tim 5
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Chớ quở nặng người già cả, nhưng hãy khuyên dỗ họ như cha, còn kẻ trẻ thì như anh em,
1MAI papa ikaika i ke kanaka kahiko, aka, e ao pono aku ia ia, me he makuakane la; a i ka poe ui hoi me he mau hoahanau la;
2đàn bà có tuổi cũng như mẹ, bọn thiếu nữ như chị em, mà phải lấy cách thanh sạch trọn vẹn.
2A i na wahine kahiko, me he mau makuwahine la; a i na kaikamahine hoi me he mau kaikuwahine la, me ka maemae loa.
3Hãy kính những người đàn bà góa thật là góa.
3E hoomaikai aku i na wahinekanemake, i ka poe wahinekanemake oiaio.
4Nhưng nếu bà góa có con hoặc cháu, thì con cháu trước phải học làm điều thảo đối với nhà riêng mình và báo đáp cha mẹ; vì điều đó đẹp lòng Đức Chúa Trời.
4Aka, ina he mau keiki ka kekahi wahinekanemake, a he mau moopuna paha, e ao lakou e hoike mua i ke aloha ma ko lakou hale iho, a e uku aku i ko lakou mau makua; no ka mea, oia ka maikai, a me ka pono imua o ke alo o ke Akua.
5Người thật góa ở một mình, đã để lòng trông cậy nơi Đức Chúa Trời, ngày đêm bền lòng cầu nguyện nài xin.
5O ka wahinekanemake oiaio, a mehameha hoi, ua hilinai no ia i ke Akua, a ua noho mau no ia me ka pule ana a me ka hoomana ana i ka po a me ke ao.
6Nhưng về phần kẻ ưa sự vui chơi, thì dẫu sống cũng như chết.
6Aka, o ka wahine e noho ana ma ka lealea, ua make no ia i kona wa e ola ana.
7Hãy nhắc lại những điều đó cho họ hầu cho họ không chỗ trách được.
7Oia mau mea kau e kauoha aku ai i hala ole lakou.
8Ví bằng có ai không săn sóc đến bà con mình, nhất là không săn sóc đến người nhà mình, ấy là người chối bỏ đức tin, lại xấu hơn người không tin nữa.
8A i hoolako ole kekahi i kona a me ko ka hale ponoi ona iho no hoi, ua hoole ia i ka manaoio, a ua oi aku kona hewa i ko ka mea manaoio ole.
9Cho được ghi tên vào sổ đàn bà góa, thì người đàn bà phải đủ sáu mươi tuổi, vốn chỉ có một chồng mà thôi,
9Aole e pono, e kakauia ma ka palapala, ka wahinekanemake i kanaono ole na makahiki, a ua wahine na ke kanaka hookahi,
10phải là người được tiếng khen vì việc phước đức mình, như đã nuôi con cái, đãi đằng khách lạ, rửa chân thánh đồ, cứu giúp kẻ khốn nạn, và làm đủ các việc phước đức.
10A i mahaloia no kana hana maikai ana; ina i hanai ia i na keiki i hookipa hoi i na malihini, a i holoi hoi i na wawae o ka poe hoano, a i kokua hoi i ka poe poino, a ina i hahai mau ia i na hana maikai a pau.
11Nhưng hãy từ chối những đàn bà góa còn trẻ quá; vì lúc thú vui xui họ lìa khỏi Đấng Christ, thì họ muốn lấy chồng,
11Aka, e hoole aku i na wahine kane make opiopio, no ka mea, i ka wa e lilo ai lakou i ka lealea e ku e ia Kristo, e ma re no lakou;
12bội lời thệ ước ban đầu mà chuốc lấy điều quở trách vào mình.
12A e hoohewaia, no ko lakou haalele ana i ko lakou manaoio mamua.
13Đó là vì họ hay ở không, quen thói chạy nhà nầy sang nhà khác; nào những họ ở không thôi đâu, lại còn thày lay thóc mách, hay nói những việc không đáng nói nữa.
13A ua lilo hoi lakou ma ka palaualelo, e lalau ana ma ia hale aku a ia hale aku; aole hoi o ka palaualelo wale no, o ka holoholo olelo kekahi, mo he poe hana lapuwale la, e olelo ana i na mea aole e pono ke olelo.
14Vậy ta muốn những gái góa còn trẻ nên lấy chồng, sanh con cái, cai trị nhà mình, khỏi làm cớ cho kẻ thù nghịch nói xấu.
14O ko'u manao no ia no ua wahine opiopio, e mare lakou, a e hanau keiki, a e hooponopono i ka hale, i loaa ole ka hala e hoino mai ai ka enemi.
15Vì đã có một vài bà góa bội đi mà theo quỉ Sa-tan.
15No ka mea, ua huli e ae nei kekahi poe mamuli o Satana.
16Nếu tín đồ nào có đàn bà góa trong nhà mình, thì phải giúp đỡ họ, cho khỏi lụy đến Hội thánh, hầu cho Hội thánh có thể giúp đỡ những người thật góa.
16A o ke kanaka, a o ka wahine paha i manaoio, he mau wahinekanemake kona, e malama no ia ia lakou i kaumaha ole ai ka ekalesia; a e pono ai hoi ia ia ke malama i ka poe wahinekanemake oiaio.
17Các trưởng lão khéo cai trị Hội thánh thì mình phải kính trọng bội phần, nhất là những người chịu chức rao giảng và dạy dỗ.
17E malama nui ia'ku na lunakahiko e hoomalu pono ana, he oiaio hoi, o ua poe la i hooikaika ma ka olelo a me ke ao aku;
18Vì Kinh Thánh rằng: Ngươi chớ khớp miệng con bò đang đạp lúa; và người làm công thì đáng được tiền công mình.
18No ka mea, ua olelo mai ka palapala hemolele, Mai hoopaa oe i ka waha o ka bipi kauo e hahi ana i ka palaoa. E pono ka paahana e ukuia mai.
19Đừng chấp một cái đơn nào kiện một trưởng lão mà không có hai hoặc ba người làm chứng.
19Aole oe e hoolohe i ka hoohewa ana i ka luna kahiko, ke ole ia ma na mea hoike, elua, ekolu paha.
20Kẻ có lỗi, hãy quở trách họ trước mặt mọi người, để làm cho kẻ khác sợ.
20O ka poe hana hewa o kau ia e papa aku imua o ke alo o na mea a pau, i makau mai ai hoi o hai.
21Trước mặt Đức Chúa Trời, trước mặt Đức Chúa Jêsus Christ, và trước mặt các thiên sứ được chọn, ta răn bảo con giữ những điều đó, đừng in trí trước, phàm việc gì cũng chớ tây vị bên nào.
21Ke kauoha aku nei au imua O ke alo o ke Akua a me ka Haku o Iesu Kristo, a me na anela punahele, e malama oe ia mau mea me ka hookela ole i kekahi mamua o kekahi, a me ka hana ewaewa ole.
22Đừng vội vàng đặt tay trên ai, chớ hề nhúng vào tội lỗi kẻ khác; hãy giữ mình cho thanh sạch.
22Mai kau alulu i na lima maluna iho o kekahi, aole hoi e komo pu oe i ko hai hala. E malama ia oe iho me ka maemae.
23Đừng chỉ uống nước luôn; nhưng phải uống một ít rượu, vì cớ tì vị con, và con hay khó ở.
23Mai inu hou i ka wai maoli, he wahi waina uuku hoi kau e lawe ai i pono ai kou opu, a no kou nawaliwali pinepine ana.
24Có người thì tội lỗi bị bày tỏ và chỉ người đó ra trước khi phán xét; còn có người thì sau rồi mới bị bày tỏ ra.
24O na hewa o kekahi poe kanaka, ua akaka e no ia e hele mua ana i ka hoohewaia mai; a e hahai ana no hoi na hewa mamuli o kekahi poe.
25Các việc lành cũng vậy: có việc thì bày ra, lại có việc thì không bày ra, mà sau rồi cũng không giấu kín được.
25Pela no hoi na hana maikai, ua akaka e no kekahi; a o na mea i ole pela, aole nae e hiki ke hunaia.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.