Lu 21
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Meriam Mir Gospels
1Đức Chúa Jêsus vừa ngó lên, thấy những kẻ giàu bỏ tiền lễ vào rương,
1Ege E egreemalu, E erdali lu giz ra apu, uiaba batauered uiaba mani, abele uteb mani ikedi.
2lại thấy một mụ góa nghèo bỏ vào hai đồng tiền.
2Ege E erdali nerute mai kosker, nole lu kak, E batauered neisi kebi mani.
3Ngài phán rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, mụ góa nghèo nầy đã bỏ vào nhiều hơn hết mọi người khác.
3Ege E uiabi detager, kega, Ageakar, kaka uabi detager, kega, Abele mai kosker, abara mani batauered, E aule uiabi dog uridili:
4Vì mọi người kia đều lấy của dư mình mà làm của dâng; nhưng mụ nầy thiếu thốn, mà đã dâng hết của mình có để nuôi mình.
4Abelelam uiaba uridili batauered uiaba mani, gaire uiaba lulam: ege abele mai kosker, nolea lu kak, E batauered abara kebi mani uridili, abkoreb abara eded.
5Có mấy người nói về đền thờ, về đá đẹp và đồ dâng làm rực rỡ trong đền thờ. Đức Chúa Jêsus phán rằng:
5Ege uader mer batagerare abele lu muige zogo meta ge, ege mamoro derser debe baker, pako uader zeku lu muige zogo meta, E uiabim daratagerare, kega,
6Những ngày sẽ đến, mọi điều các ngươi ngó thấy đây, sẽ không còn một hòn đá nào chồng trên hòn khác mà không đổ xuống.
6Ege gaire lu uaba dasmerare, keubu gerger tabarki, nole baker ko igi tumem nerute baker, a nole abu kak.
7Họ bèn hỏi Ngài rằng: Lạy thầy, vậy việc đó chừng nào sẽ xảy đến, và có điềm gì cho người ta biết rằng việc gần xảy đến không?
7Ui ge abi itimerare, kega, Ereuer le, na kerker ge gaire lu tabarki? a nalu atamelam gaire lu tabarki?
8Ngài đáp rằng: Các ngươi hãy giữ, kẻo bị cám dỗ; vì có nhiều người sẽ mạo danh ta mà đến, và nói rằng: Aáy chính ta là Đấng Christ, thì giờ đã đến gần. Các ngươi đừng theo họ.
8E uiabim detaut, kega, Uaba mamoro dikiaporare, nerute le uabi okardare: abelelam gaire le ko uatabarkare kara nei ge, kega, Kakanali. Ege abele kerker maike: uaba nole uiabim irimili.
9Lại khi các ngươi nghe nói về giặc giã loạn lạc, thì đừng kinh khiếp, vì các điều đó phải đến trước; nhưng chưa phải cuối cùng liền đâu.
9Ese uaba asoli ares, a mirem, a uaba nole geum: abkoreb kekiam abele lu uatabaruk, a mop uarem.
10Ngài cũng phán cùng họ rằng: Dân nầy sẽ dấy lên nghịch cùng dân khác, nước nó nghịch cùng nước kia;
10E uiabi daratagereda, kega, Nerute ged tekuei obapit nerute ged, a nerute baselaia obapit nerute baselaia:
11sẽ có sự động đất lớn, có đói kém và dịch lệ trong nhiều nơi, có những điềm lạ kinh khiếp và dấu lớn ở trên trời.
11Au demali ia uanagiri abele uteb ge, a nerute uteb ge, a uererege, a gimgim, a urker, a gaire atamelam kotor ge.
12Song trước những điều đó thiên hạ sẽ vì cớ danh ta mà tra tay bắt bớ các ngươi, nộp tại các nhà hội, bỏ vào ngục, kéo đến trước mặt các vua và các quan tổng đốc.
12Gaire lu nole tabarki, a uiaba uabi erpei, a dedkoli, a uiaba uabi uademarkar sunagoem, pako audbar metaem, a uiaba uabi uadeguatare opole giz opem, kara neilam.
13Điều ấy xảy ra cho các ngươi để làm chứng cớ.
13Abele gaire lu uabim atamelam.
14Vậy các ngươi hãy nhớ kỹ trong trí, đừng lo trước về sự binh vực mình thể nào.
14Abele lu, debele ikedi uabi nerkep ge, iaueakai uaba nole kekiam deraimer, a dikiapor na mer ko detager:
15Vì ta sẽ ban cho các ngươi lời lẽ và sự khôn ngoan, mà kẻ nghịch không chống cự và bẻ bác được.
15Abelelam kaka uabi dekuarda abele mer, a pardar, umer kak nerute le uabi asared, uaba au saserim.
16Các ngươi cũng sẽ bị cha, mẹ, anh, em, bà con, bạn hữu mình nộp mình; và họ sẽ làm cho nhiều người trong các ngươi phải chết.
16A uaba ab giz emarik, a keimer giz, a boai giz; a uader uabi ipit eumilu.
17Các ngươi sẽ vì cớ danh ta bị mọi người ghen ghét.
17Gaire le uridili ko uabi derar, kara neilam.
18Nhưng một sợi tóc trên đầu các ngươi cũng không mất đâu.
18A uaba kerem mus, nole nerute mus abi.
19Nhờ sự nhịn nhục của các ngươi mà giữ được linh hồn mình.
19Ese uaba debe tonar, a uaba eded nagri.
20Vả, khi các ngươi sẽ thấy quân lính vây thành Giê-ru-sa-lem, hãy biết sự tàn phá thành ấy gần đến.
20Ese uaba erdali Ierusalema ge, urker ares deraueli, a uaba dikiapor maike dedkoli.
21Lúc đó, ai ở trong xứ Giu-đê hãy trốn lên núi; ai ở trong thành phải đi ra ngoài, ai ở ngoài đồng đừng trở vào thành.
21Abele gerger uader emeri Iudaia ge, debele uiaba bakeuare paserem; uader emeri muige abele uteb ge, debele ui adem obakeuare; uader emeri sumez ge, uiaba nole ko akomeda muige abele uteb ge.
22Vì những ngày đó là ngày báo thù, hầu cho mọi lời đã chép được ứng nghiệm.
22Abelelam abele kerker bodomalam, iaueakai gaire lu ageakarem emetu detarare.
23Trong những ngày ấy, khốn cho đàn bà có thai, và đàn bà cho con bú! Vì sẽ có tai nạn lớn trong xứ, và cơn thạnh nộ nghịch cùng dân nầy.
23Uaiai uiaba kosker kem, pako uiaba nano emeli abele gerger giz! abelelam au asias tabarki abele ged ge, pako urker.
24Họ sẽ bị ngã dưới lưỡi gươm, sẽ bị đem đi làm phu tù giữa các dân ngoại, thành Giê-ru-sa-lem sẽ bị dân ngoại giày đạp, cho đến chừng nào các k” dân ngoại được trọn.
24A uiaba eumid teibur aosaos tulik gargerlam, a uiaba no bakeamu gaire ged uridili: a gaire nogle uiaba dedkoli Ierusalema, a keubu abele nogle giz uiaba erdali uiaba mop.
25Sẽ có các điềm lạ trong mặt trời, mặt trăng, cùng các ngôi sao; còn dưới đất, dân các nước sầu não rối loạn vì biển nổi tiếng om sòm và sóng đào.
25Lem kotor ge nagri atamelam, pako meb, a uer giz; geseb ge gaire ged nagri geum, a gur ge maisu a zauber nagri.
26Người ta nhân trong khi đợi việc hung dữ xảy ra cho thế gian, thì thất kinh mất vía, vì các thế lực trên trời sẽ rúng động.
26Gaire le no eumida abele geum ge, a naokaili gaire lu ko tabarki gesepem: abelelam urker kotorlam demali.
27Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con người dùng đại quyền đại vinh mà ngự đến trên đám mây.
27Epe uiaba erdali Le la Uerem tabarki baz kotor ge, E au adigri au zoromzorom.
28Chừng nào các việc đó khởi xảy đến, hãy đứng thẳng lên, ngước đầu lên, vì sự giải cứu của các ngươi gần tới.
28Ese ditimeda gaire lu, debele uaba bager a kerem iteare; abelelam maike uaba eded nagri.
29Đoạn, Ngài phán cùng họ một lời ví dụ rằng: Hãy xem cây vả và các cây khác;
29E uiabim detager, nerute mer babisdarie, kega, Uaba dasmerare abele suke pako gaire lu uridili:
30khi nó mới nứt lộc, các ngươi thấy thì tự biết rằng mùa hạ đã gần đến.
30Ese lulam eperekilu, a uaba dasmer, a uaba umele maike urueri urut.
31Cũng vậy, khi các ngươi thấy những điều ấy xảy ra, hãy biết nước Đức Chúa Trời gần đến.
31Abkoreb, ese uaba erdali abele lu emetu ikeli, a uaba dikiapor Ade ra baselaia maike.
32Quả thật, ta nói cùng các ngươi, dòng dõi nầy chẳng qua trước khi mọi sự kia chưa xảy đến.
32Ageakar, kaka uabi detager, kega, Abele nosik le nole abu kak, kekiam abele gaire lu uridili tabarki.
33Trời đất sẽ qua, song lời ta nói sẽ không qua đâu.
33Kotor a geseb ko abu, a kara mer giz nole abu kak,
34Vậy, hãy tự giữ lấy mình, e rằng vì sự ăn uống quá độ, sự say sưa và sự lo lắng đời nầy làm cho lòng các ngươi mê mẩn chăng, và e ngày ấy đến thình lình trên các ngươi như lưới bủa;
34Ua mamoro dasmer, iaueakai uaba nerkep nole beber, a gebgeb, a paim, a nole badumu geseb lugem, abelelam abele gerger keserkeser tabarki:
35vì ngày đó sẽ đến cho mọi người ở khắp trên mặt đất cũng vậy.
35Abelelam mokakalam pom tabarki, gaire le uridili emeri geseb ge.
36Vậy, hãy tỉnh thức luôn và cầu nguyện, để các ngươi được tránh khỏi các tai nạn sẽ xảy ra, và đứng trước mặt Con người.
36Debele uaba mamoro dasmer, a derser, a ner kak esorerapare, iaueakai uaba au saserim, gaire lu maike tabarki, a mamoro ekuei opem Le la Uerem.
37Vả, ban ngày, Đức Chúa Jêsus dạy dỗ trong đền thờ; còn đến chiều, Ngài đi lên núi, gọi là núi Ô-li-ve, mà ở đêm tại đó.
37Abara tonar E ereuerem gerger ge, muige zogo meta, ki ge osmed, E emeri nerute paser, nei atker Oliua.
38Vừa tảng sáng, cả dân sự đến cùng Ngài trong đền thờ, đặng nghe Ngài dạy.
38Idim ge, abele ged ge uridili tabakeuare abele zogo meta ge, lagelag asarare abara mer.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.