Ai
Chapter 5
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Berean Standard Bi…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Berean Standard Bible
1Hỡi Đức Giê-hô-va, xin nhớ sự đã giáng trên chúng tôi; Hãy đoái xem sự sỉ nhục chúng tôi!
1Remember, O LORD, what has happened to us. Look and see our disgrace!
2Sản nghiệp chúng tôi đã sang tay dân ngoại, Nhà cửa thuộc về người giống khác.
2Our inheritance has been turned over to strangers, our houses to foreigners.
3Chúng tôi mất cha, phải mồ côi, Mẹ chúng tôi trở nên góa bụa.
3We have become fatherless orphans; our mothers are widows.
4Chúng tôi uống nước phải trả tiền, Phải mua mới có củi.
4We must buy the water we drink; our wood comes at a price.
5Kẻ đuổi theo kịp chúng tôi, chận cổ chúng tôi; Chúng tôi đã mỏi mệt rồi, chẳng được nghỉ!
5We are closely pursued; we are weary and find no rest.
6Chúng tôi giang tay hướng về những người Ê-díp-tô Và A-si-ri, đặng có bánh ăn no nê.
6We submitted to Egypt and Assyria to get enough bread.
7Tổ phụ chúng tôi đã phạm tội, nay không còn nữa. Chúng tôi đã mang lấy sự gian ác họ.
7Our fathers sinned and are no more, but we bear their punishment.
8Kẻ đầy tớ cai trị chúng tôi, Chẳng ai cứu chúng tôi khỏi tay họ.
8Slaves rule over us; there is no one to deliver us from their hands.
9Chúng tôi liều mạng mới có bánh mà ăn, Vì cớ mũi gươm nơi đồng vắng.
9We get our bread at the risk of our lives because of the sword in the wilderness.
10Da chúng tôi nóng như lò lửa, Vì cơn đói thiêu đốt chúng tôi!
10Our skin is as hot as an oven with fever from our hunger.
11Chúng nó đã làm nhục đàn bà tại Si-ôn, Và gái đồng trinh trong các thành Giu-đa.
11Women have been ravished in Zion, virgins in the cities of Judah.
12Tay chúng nó đã treo các quan trưởng lên, Chẳng kính trọng mặt các người già cả.
12Princes have been hung up by their hands; elders receive no respect.
13Kẻ trai tráng đã phải mang cối, Trẻ con vấp ngã dưới gánh củi.
13Young men toil at millstones; boys stagger under loads of wood.
14Các người già cả không còn ngồi nơi cửa thành, Bọn trai trẻ không còn chơi đàn hát.
14The elders have left the city gate; the young men have stopped their music.
15Lòng chúng tôi hết cả sự vui; Cuộc nhảy múa đổi ra tang chế.
15Joy has left our hearts; our dancing has turned to mourning.
16Mão triều thiên rơi khỏi đầu chúng tôi, Khốn cho chúng tôi, vì chúng tôi phạm tội!
16The crown has fallen from our head. Woe to us, for we have sinned!
17Vì vậy lòng chúng tôi mòn mỏi, Mắt chúng tôi mờ tối,
17Because of this, our hearts are faint; because of these, our eyes grow dim—
18Vì núi Si-ôn đã trở nên hoang vu, Chồn cáo đi lại trên đó.
18because of Mount Zion, which lies desolate, patrolled by foxes.
19Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài còn đời đời, Ngôi Ngài còn từ đời nầy sang đời kia!
19You, O LORD, reign forever; Your throne endures from generation to generation.
20Sao Ngài quên chúng tôi mãi mãi, Lìa bỏ chúng tôi lâu vậy?
20Why have You forgotten us forever? Why have You forsaken us for so long?
21Hỡi Đức Giê-hô-va, hãy xây chúng tôi trở về Ngài thì chúng tôi sự trở về Làm những ngày chúng tôi lại mới như thuở xưa!
21Restore us to Yourself, O LORD, so we may return; renew our days as of old,
22Nhưng Ngài lại bỏ hết chúng tôi, Ngài giận chúng tôi quá lắm.
22unless You have utterly rejected us and remain angry with us beyond measure.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.