Luo Corinth
Chapter 6
Bible Mutal (Kosraean)
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers

Luo Corinth 6

Bible Mutal (Kosraean)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Kut, su wi God in oru orekma lal, kut kwafe suwos tuh kowos in tia pilesru kulang lun God su kowos eis tari.
1Aáy vậy, vì chúng tôi làm việc với Chúa, nên xin anh em chớ chịu ơn Đức Chúa Trời luống không.
2Lohng ma God El fahk, “Ke sun pacl fal in fahkak kulang luk nu sum, Nga tuh porongekom; Ke len in molela tuku, Nga tuh kasrekom.” Kowos porongo! Pa inge pacl wo in eis kulang lun God; misenge pa len in eis molela!
2Vì Ngài phán rằng: Ta đã nhậm lời ngươi trong thì thuận tiện, Ta đã phù hộ ngươi trong ngày cứu rỗi. Kìa, hiện nay là thì thuận tiện; kìa, hiện nay là ngày cứu rỗi!
3Kut tia lungse kutena mwet in pangon mu oasr ma sutuu ke orekma lasr, ke ma inge kut srike in tia oru mwe tukulkul nu sin kutena mwet.
3Chúng tôi chẳng làm cho ai vấp phạm, hầu cho chức vụ của mình khỏi bị một tiếng chê bai nào.
4A in ma nukewa kut oru, kut mongfisrasr in muteng ke mwe lokoalok, ma upa, ac mwe keok, tuh in kalem lah kut mwet kulansap lun God.
4Nhưng chúng tôi làm cho mình đáng trượng trong mọi sự, như kẻ hầu việc Đức Chúa Trời, bởi lòng nhịn nhục lắm trong những sự hoạn nạn, thiếu thốn, khốn khổ,
5Anwuk kut, kapiri kut, mwet uh wonak lain kut; akkemkatuyeyuk kut, ac wangin pacl in motul ku mongo.
5đòn vọt, lao tù, rối loạn, khó nhọc, tỉnh thức, kiêng ăn;
6Kut sifacna fahkkutyak lah kut mwet kulansap lun God ke moul nasnas lasr, ke etauk, ke mongfisrasr, ke kulang — oayapa ke Ngun Mutal, ke lungse pwaye lasr,
6bởi sự thanh sạch, thông biết, khoan nhẫn, nhơn từ, bởi Đức Thánh Linh, bởi lòng yêu thương thật tình,
7ke fahkak lasr ke ma pwaye, ac ke ku lun God. Suwoswos pa mwe mweun lasr, in lain ma koluk ac in loangekut.
7bởi lời chân thật, bởi quyền phép Đức Chúa Trời, cầm những khí giới công bình ở tay hữu và tay tả;
8Akfulatyeyuk ac oayapa aklusrongtenyeyuk kut; akkolukyeyuk ac kaksakinyuk pac kut. Orek kut oana mwet kikiap, sruk kut kaskas na pwaye;
8dầu vinh dầu nhục, dầu mang tiếng xấu, dầu được tiếng tốt;
9oana kut in mwet nikinyuk, sruk mwet nukewa etekut; oana kut in mwet misa, a kut moul na, oana ke kowos liye. Finne kalyeiyuk kut, a kut tiana anwuki;
9ngó như kẻ phỉnh dỗ, nhưng là kẻ thật thà; ngó như kẻ xa lạ, nhưng là kẻ quen biết lắm; ngó như gần chết, mà nay vẫn sống; ngó như bị sửa phạt, mà không đến chịu giết;
10ne aksupwaryeyuk kut, a kut insewowo pacl nukewa; oana kut in sukasrup, sruk kut akkasrupye mwet puspis; oana in wangin ma lasr, a pwayeiya uh ma nukewa oasr yorosr.
10ngó như buồn rầu, mà thường được vui mừng; ngó như nghèo ngặt, mà thật làm cho nhiều người được giàu có ngó như không có gì cả, mà có đủ mọi sự!
11Mwet kawuk saok in Corinth! Kut fahk ma na pwaye nu suwos; kut fahkak nufon ma oan insiasr.
11Hỡi người Cô-rinh-tô, miệng chúng tôi hả ra vì anh em, lòng chúng tôi mở rộng.
12Tia kut pa kaliya insiasr nu suwos; a kowos pa kaliya insiowos nu sesr.
12Chẳng phải chúng tôi hẹp hòi đãi anh em, nhưng ấy là lòng anh em tự làm nên hẹp hòi.
13Inge nga kaskas nu suwos oana kowos in ma na nutik: kowos in oayapa lungse kut ke insiowos nufon.
13Hãy báo đáp chúng tôi như vậy, tôi nói với anh em như nói với con cái mình, cũng hãy mở rộng lòng anh em!
14Kowos in tia kupasryang nu sin mwet tia lulalfongi ke orekma lowos, mweyen tiana ku. Ma suwohs ac ma koluk ac akasrui fuka? Kalem ac lohsr ac tukeni fuka?
14Chớ mang ách chung với kẻ chẳng tin. Bởi vì công bình với gian ác có hội hiệp nhau được chăng? Sự sáng với sự tối có thông đồng nhau được chăng?
15Ya Christ ac Devil ku in insese ke kutena ma? Mea mwet lulalfongi se ac mwet selulalfongi se oana sie kac uh?
15Đấng Christ và Bê-li-an nào có hòa hiệp chi, hay là kẻ tin có phần gì với kẻ chẳng tin?
16Ya Tempul lun God ac ma sruloala lun mwet pegan ku in tukeni? Kut tempul lun God moul! In oana ke God El sifacna fahk, “Nga fah oru lohm sik yurin mwet luk Ac muta inmasrlolos; Nga fah God lalos, Ac elos fah mwet luk.”
16Có thể nào hiệp đền thờ Đức Chúa Trời lại với hình tượng tà thần? Vì chúng ta là đền thờ của Đức Chúa Trời hằng sống, như Đức Chúa Trời đã phán rằng: Ta sẽ ở và đi lại giữa họ; ta sẽ làm Đức Chúa Trời của họ, và họ làm dân ta.
17Ouinge Leum God El fahk, “Kowos fah tuyak ac som lukelos, Ac sifacna srikowosla lukelos. Tia kahlya kutena ma su fohkfok, Na nga fah insewowo in eis kowos.
17Bởi vậy Chúa phán rằng: Hãy ra khỏi giữa chúng nó, hãy phân rẽ ra khỏi chúng nó, đừng đá động đến đồ ô uế, Thì ta sẽ tiếp nhận các ngươi:
18Nga ac fah papa tomowos, Ac kowos ac fah wen ac acn nutik, Leum God Kulana El fahk.”
18Ta sẽ làm Cha các ngươi, Các ngươi làm con trai con gái ta, Chúa Toàn năng phán như vậy.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.