Johan 8
Baibal Olcim (Matupi Chin)Translation
Baibal Olcim (Matupi Chin)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Tedae Jesuh tah olive tlang la cet.
1Đức Chúa Jêsus lên trên núi Ô-li-ve.
2Mincang ah bawkim la koep ha pawk hatah pilnam pum loh a taengla a paan uh. Te dongah ngol tih amih te a thuituen.
2Nhưng đến tảng sáng, Ngài trở lại đền thờ; cả dân sự đều đến cùng Ngài, Ngài bèn ngồi dạy dỗ họ.
3Te vaengah cadaek rhoek neh Pharisee rhoek loh huta pakhat te a samphaihnah neh a tuuk uh tih a khuen uh.
3Bấy giờ, các thầy thông giáo và các người Pha-ri-si dẫn lại cho Ngài một người đàn bà đã bị bắt đang khi phạm tội tà dâm; họ để người giữa đám đông,
4Anih te a laklung ah a pai sak uh phoeiah, Jesuh te, “Saya, hekah huta he a samphaih li vaengah ka tuuk uh.
4mà nói cùng Đức Chúa Jêsus rằng: Thưa thầy, người đàn bà nầy bị bắt quả tang về tội tà dâm.
5Tedae olkhueng dongah tah hebang he dae hamla Moses loh mamih n'uen coeng. Te koinih nang tah metlae na ti eh?” a ti na uh.
5Vả, trong luật pháp Môi-se có truyền cho chúng ta rằng nên ném đá những hạng người như vậy; -còn thầy, thì nghĩ sao?
6Tedae he nen he amah paelnaeh ham a khueh uh dongah a noemcai uh tih a voek uh. Te dongah Jesuh loh buluk thuk tih kutdawn neh lai ah a daek.
6Họ nói vậy để thử Ngài, hầu cho có thể kiện Ngài. Nhưng Đức Chúa Jêsus cúi xuống, lấy ngón tay viết trên đất.
7Tedae amah te koepkoep a dawt uh vaengah pai tih amih te, “ Nangmih khuikah aka tholh mueh loh anih te lamhma la lungto neh dae saeh,” a ti nah.
7Vì họ cứ hỏi nữa, thì Ngài ngước lên và phán rằng: Ai trong các ngươi là người vô tội, hãy trước nhất ném đá vào người.
8Te phoeiah koep buluk tih lai ah a daek.
8Rồi Ngài lại cúi xuống cứ viết trên mặt đất.
9A yaak uh vaengah patong lamkah a tong tih pakhat pakhat ah boeih cet uh. Te dongah Jesuh neh a laklung kah aka om huta bueng la cul.
9Khi chúng nghe lời đó, thì kế nhau mà đi ra, những người có tuổi đi trước; Đức Chúa Jêsus ở lại một mình với người đàn bà, người vẫn đang đứng chính giữa đó.
10Te vaengah Jesuh te pai tih, “ Huta, melam a om uh? nang m'boe sak moenih nama? ” a ti nah.
10Đức Chúa Jêsus bấy giờ lại ngước lên, không thấy ai hết, chỉ có người đàn bà, bèn phán rằng: Hỡi mụ kia, những kẻ cáo ngươi ở đâu? Không ai định tội ngươi sao?
11Te dongah te long te, “Boeipa, om pawh ue,” a ti nah. Jesuh loh, “ Kai khaw nang kan boe sak moenih. Cet lamtah tahae lamkah tholh voel boeh,” a ti nah.
11Người thưa rằng: Lạy Chúa, không ai hết. Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta cũng không định tội ngươi; hãy đi, đừng phạm tội nữa.
12Te phoeiah Jesuh te amih taengah koep cal tih, “ Kai tah Diklai kah vangnah ni. Kai aka vai rhoek tah a hmuep ah pongpa voel pawt vetih hingnah hmaivang te a khueh ni,” a ti nah.
12Đức Chúa Jêsus lại cất tiếng phán cùng chúng rằng: Ta là sự sáng của thế gian; người nào theo ta, chẳng đi trong nơi tối tăm, nhưng có ánh sáng của sự sống.
13Te dongah amah te Pharisee rhoek loh, “Nang loh namah kawng ni na phong, na olphong te oltak om pawh,” a ti na uh.
13Người Pha-ri-si bèn nói rằng: Thầy tự làm chứng về mình, thì lời chứng thầy không đáng tin.
14Jesuh loh amih te a doo tih, “ Kai loh kamah kawng ka phong cakhaw kai kah olphong te oltak la om. Me lamkah ka lo tih mela ka caeh khaw ka ming. Tedae nangmih loh me lamkah ka lo tih mela ka caeh khaw na ming uh pawh .
14Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Dẫu ta tự làm chứng về mình, nhưng lời chứng ta là đáng tin, vì ta biết mình đã từ đâu mà đến và đi đâu; song các ngươi không biết ta từ đâu mà đến, cũng chẳng hay ta đi đâu.
15Nangmih loh pumsa neh lai na tloek uh. Kai tah ukhaw lai ka tloek moenih .
15Các ngươi xét đoán theo xác thịt; ta thì không xét đoán người nào hết.
16Tedae lai ka tloek van coeng atah kamah bueng ka om pawt tih kai aka tueih a pa neh kai ka om rhoi dongah kai kah laitloeknah tah a thuem la om pataeng .
16Nếu ta xét đoán ai, sự xét đoán của ta đúng với lẽ thật; vì ta không ở một mình, nhưng Cha là Đấng đã sai ta đến vẫn ở cùng ta.
17Olkhueng dongah khaw nangmih ah hlang panit kah olphong te thuem tila a daek coeng .
17Vả, có chép trong luật pháp của các ngươi rằng lời chứng hai người là đáng tin:
18Kai loh kamah kawng aka phong la ka om dae kai aka tueih a pa loh kai kawng a phong,” a ti nah.
18ta tự làm chứng cho ta, và Cha là Đấng đã sai ta đến cũng làm chứng cho ta.
19Te dongah amah te, “Na pa te melam a om?” a ti na uh. Jesuh loh, “ Kai nan ming uh pawt tih a pa khaw na ming uh pawh. Kai nan ming uh koinih a pa te khaw na ming uh ni,” a ti nah.
19Chúng thưa cùng Ngài rằng: Cha của thầy ở đâu? Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Các ngươi chẳng biết ta, và cũng chẳng biết Cha ta. Nếu các ngươi biết ta, thì cũng biết Cha ta nữa.
20Bawkim ah a thuituen vaengah hekah ol he tangkabu kaepah a thui dae amah kah a tue a pha hlan dongah anih te tuu uh pawh.
20Đức Chúa Jêsus phán mọi lời đó tại nơi Kho, đang khi dạy dỗ trong đền thờ; và không ai tra tay trên Ngài, vì giờ Ngài chưa đến.
21Te dongah amih te, “ Ka caeh vaengah kai nan toem uh cakhaw namamih kah tholh ah na duek uh ni. Mela ka caeh khaw nan pha uh ham coeng pawh,” koep a ti nah.
21Ngài lại phán cùng chúng rằng: Ta đi, các ngươi sẽ tìm ta, và các ngươi sẽ chết trong tội lỗi mình. Các ngươi không thể đến được nơi ta đi.
22Te dongah Judah rhoek loh, “Amah ngawn uh la cai pawt nim? ' Mela ka caeh khaw na loh ham coeng pawh ,’ a ti he,” a ti uh.
22Người Giu-đa bèn nói rằng: Người đã nói: Các ngươi không thể đến được nơi ta đi, vậy người sẽ tự tử sao?
23Te vaengah amih te, “ Nangmih tah a hmui lamkah ni. Kai tah a so lamkah ni. Nangmih tah he Diklai lamkah ni. Kai tah he Diklai lamkah ka om moenih .
23Ngài phán rằng: Các ngươi bởi dưới mà có; còn ta bởi trên mà có. Các ngươi thuộc về thế gian nầy; còn ta không thuộc về thế gian nầy.
24Te dongah namamih kah tholh ah na duek uh ni tila nangmih taengah ka thui. Kai he amah ni tila na tangnah uh pawt atah namamih kah tholh ah na duek uh ni,” a ti nah.
24Nên ta đã bảo rằng các ngươi sẽ chết trong tội lỗi mình; vì nếu các ngươi chẳng tin ta là Đấng đó, thì chắc sẽ chết trong tội lỗi các ngươi.
25Te dongah amah te, “Nang ulae,” a ti na uh. Jesuh loh amih taengah, “ Pakhat khaw a tongcuek ah nangmih ham kan thui van te ta?
25Chúng bèn hỏi Ngài rằng: Vậy thầy là ai? Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Như lời ta đã nói với các ngươi từ ban đầu.
26Nangmih kawng te thui ham neh laitloek ham muep om. Tedae kai aka tueih tah oltak la om. Kai khaw anih taengkah ka yaak te ni Diklai ah ka thui,” a ti nah.
26Ta có nhiều sự nói và đoán xét về các ngươi; nhưng Đấng đã sai ta đến là thật, và điều chi ta nghe bởi Ngài, ta truyền lại cho thế gian.
27Amih taengah Pa kah a thui tila ming uh pawh.
27Chúng không hiểu rằng Ngài phán về Cha.
28Te dongah Jesuh loh amih taengah, “ Hlang capa te na pomsang uh daengah ni kai ni ti khaw, kamah lamkah ka saii pawt tih a pa loh kai n'thuituen vanbangla ka thui he khaw na ming uh eh .
28Vậy Đức Chúa Jêsus phán rằng: Khi các ngươi treo Con người lên, bấy giờ sẽ biết ta là ai, và biết ta không tự mình làm điều gì, nhưng nói điều Cha ta đã dạy ta.
29Te dongah kai aka tueih te kai taengah om tih anih kolo te ka saii taitu dongah kamah bueng n'hlahpham moenih,” a ti nah.
29Đấng đã sai ta đến vẫn ở cùng ta, chẳng để ta ở một mình, vì ta hằng làm sự đẹp lòng Ngài.
30Hekah a thui vanbangla amah te muep a tangnah uh.
30Bởi Đức Chúa Jêsus nói như vậy, nên có nhiều kẻ tin Ngài.
31Te dongah Jesuh loh amah aka tangnah Judah rhoek taengah, “Kai kah olka ah na naeh atah kai kah hnukbang taktak la na om uh.
31Bấy giờ Ngài phán cùng những người Giu-đa đã tin Ngài, rằng: Nếu các ngươi hằng ở trong đạo ta, thì thật là môn đồ ta;
32Oltak te na ming uh van daengah ni oltak loh nangmih n'loeih sak eh,” a ti nah.
32các ngươi sẽ biết lẽ thật, và lẽ thật sẽ buông tha các ngươi.
33Te dongah Jesuh amah te, “Kaimih tah Abraham kah tiingan la ka om uh tih sal ka bi uh noek moenih. Metlam lae nang loh, ' Aka loeih la na om uh ni ' na ti?” a ti na uh.
33Người Giu-đa thưa rằng: Chúng tôi là dòng dõi Aùp-ra-ham, chưa hề làm tôi mọi ai, vậy sao thầy nói rằng: Các ngươi sẽ trở nên tự do?
34Jesuh loh amih te, “ Nangmih taengah rhep rhep ka thui, tholh aka saii boeih tah tholh kah sal la om .
34Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, ai phạm tội lỗi là tôi mọi của tội lỗi.
35Sal tah im ah kumhal duela a naeh moenih, capa tah kumhal duela naeh ta .
35Vả, tôi mọi không ở luôn trong nhà, mà con thì ở đó luôn.
36Te dongah capa loh nangmih n'loeih sak atah aka loeih la rhep na om uh ni .
36Vậy nếu Con buông tha các ngươi, các ngươi sẽ thật được tự do.
37Abraham kah tiingan la na om uh tila ka ming. Tedae kai kah olka he nangmih ah a om pawt dongah kai ngawn hamla nan mae uh .
37Ta biết rằng các ngươi là dòng dõi Aùp-ra-ham, nhưng các ngươi tìm thế để giết ta, vì đạo ta không được chỗ nào ở trong lòng các ngươi.
38Kai loh Pa taengkah ka hmuh te ka thui dae nangmih tah na pa taengkah na yaak uh te na saii uh,” a ti nah.
38Ta nói điều ta đã thấy nơi Cha ta; còn các ngươi cứ làm điều đã học nơi cha mình.
39Te dongah Jesuh te a doo uh tih, “Kaimih napa tah Abraham ni,” a ti uh. Jesuh loh amih te, “ Abraham kah ca la na om uh koinih Abraham kah khoboe te na saii uh ni.
39Chúng trả lời rằng: Cha chúng tôi tức là Aùp-ra-ham, Đức Chúa Jêsus phán rằng: Nếu các ngươi là con Aùp-ra-ham, thì chắc sẽ làm công việc của Aùp-ra-ham.
40Tedae kai Pathen taeng lamkah oltak ka yaak tih nangmih taengah aka thui hlang te ngawn ham na mae uh coeng. Abraham loh he tlam he a saii moenih.
40Nhưng hiện nay, các ngươi tìm mưu giết ta, là người lấy lẽ thật đã nghe nơi Đức Chúa Trời mà nói với các ngươi; Aùp-ra-ham chưa hề làm điều đó!
41Nangmih loh na pa bisai te na saii uh ,” a ti nah. Te dongah amah te , “Kaimih he Cukhalnah kah a sak moenih. A pa pakhat Pathen ka khueh uh ,” a ti uh.
41Các ngươi làm công việc của cha mình. Chúng nói rằng: Chúng tôi chẳng phải là con ngoại tình; chúng tôi chỉ có một Cha, là Đức Chúa Trời.
42Jesuh loh amih te, “ Pathen te na pa la om koinih kai loh Pathen taeng lamkah ka lo tih ka pawk coeng dongah kai nan lungnah uh ham om. Kai kamah lamloh ka pawk pawt tih anih long ni kai n'tueih .
42Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ví bằng Đức Chúa Trời là Cha các ngươi, thì các ngươi sẽ yêu ta, vì ta bởi Đức Chúa Trời mà ra và từ Ngài mà đến; bởi chưng ta chẳng phải đã đến tự mình đâu, nhưng ấy chính Ngài đã sai ta đến.
43Ba dongah kai kah olcal te na ming uh pawh. Kai kah olka te hnatun ham na coeng uh pawt dongah ni .
43Tại sao các ngươi không hiểu lời ta? Aáy là bởi các ngươi chẳng có thể nghe được đạo của ta.
44Na pa lamkah rhaithae la na om uh rhoe tih na pa kah hoehhamnah te saii ham na ngaih uh. Anih te a cuekca lamkah hlang aka ngawn ni. A khuiah oltak a om pawt dongah oltak ah pai pawh. Laithae neh laithae napa la om tih a cal vaengah a laithae te a phoe .
44Các ngươi bởi cha mình, là ma quỉ, mà sanh ra; và các ngươi muốn làm nên sự ưa muốn của cha mình. Vừa lúc ban đầu nó đã là kẻ giết người, chẳng bền giữ được lẽ thật, vì không có lẽ thật trong nó đâu. Khi nó nói dối, thì nói theo tánh riêng mình, vì nó vốn là kẻ nói dối và là cha sự nói dối.
45Tedae kai loh oltak ka thui dongah kai nan tangnah uh pawh .
45Nhưng vì ta nói lẽ thật, nên các ngươi không tin ta.
46Nangmih ah unim kai kah tholh aka toeltham? Oltak ka thui atah balae tih kai nan tangnah uh pawh ?
46Trong các ngươi có ai bắt ta thú tội được chăng?... Nếu ta nói lẽ thật, sao các ngươi không tin ta?
47Pathen taeng lamkah aka om loh Pathen kah olka te a hnatun. Te dongah na hnatun uh pawt khaw Pathen kah hut la na om uh pawt dongah ni,” a ti nah.
47Ai ra bởi Đức Chúa Trời, thì nghe lời Đức Chúa Trời; cho nên các ngươi chẳng nghe, tại các ngươi không thuộc về Đức Chúa Trời.
48Judah rhoek loh amah te a dawt uh tih, “Nang he Samaria hlang ni, rhaithae na kaem tila ka thui uh te a thuem moenih a?” a ti na uh.
48Người Giu-đa thưa rằng: Chúng tôi nói thầy là người Sa-ma-ri, và bị quỉ ám, há không phải sao?
49Jesuh loh, “Rhaithae ka kaem moenih, a pa te ni ka hinyah dae nangmih loh kai yah nan bai uh.
49Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ta chẳng phải bị quỉ ám, nhưng ta tôn kính Cha ta, còn các ngươi làm nhục ta.
50Kai loh kamah thangpomnah ka mae moenih. Tedae aka toem tih lai aka tloek te om ngawn .
50Ta chẳng tìm sự vinh hiển ta, có một Đấng tìm và đoán xét.
51Nangmih taengah rhep rhep ka thui. Khat khat loh kai ol a kuem atah kumhal duela dueknah hmu loengloeng mahpawh,” a ti nah.
51Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, nếu kẻ nào giữ lời ta, sẽ chẳng thấy sự chết bao giờ.
52Te dongah Judah rhoek loh amah te, “Rhaithae na kaem te hnap ka ming uh. Abraham neh tonghma rhoek te duek coeng dae nang mai loh, ' Khat khat loh kai ol te a kuem atah kumhal duela dueknah ten voel mahpawh , ' na ti.
52Người Giu-đa nói rằng: Bây giờ chúng tôi thấy rõ thầy bị quỉ ám; Aùp-ra-ham đã chết, các đấng tiên tri cũng vậy, mà thầy nói: Nếu kẻ nào giữ lời ta sẽ chẳng hề chết!
53A pa Abraham lakah tanglue la na om pawt nim? Anih khaw duek coeng, tonghma rhoek khaw duek uh coeng. Namah te u lam nim na ngai uh?” a ti na uh.
53Thầy lại trọng hơn cha chúng tôi, Aùp-ra-ham, là người đã chết sao? Các đấng tiên tri cũng đã chết; thầy mạo xưng mình là ai?
54Jesuh loh, “ Kai loh kamah ka thangpom koinih kai kah thangpomnah te a honghi la om ni. Kai aka thangpom tah a pa ni. Amah te nangmih loh , ‘ Mamih kah Pathen ni ,’ na ti uh .
54Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Nếu ta tự tôn vinh, thì sự vinh hiển ta chẳng ra gì; ấy là Cha ta làm vinh hiển ta, là Đấng các ngươi xưng là Đức Chúa Trời của mình.
55Amah te na ming uh pawt cakhaw kai tah amah te ka ming. Amah ka ming pawt te ka thui koinih nangmih phek la laithae la ka om ni. Tedae amah te ka ming tih a ol te ka kuem coeng .
55Dầu vậy, các ngươi chưa biết Ngài đâu; còn ta thì biết. Và nếu ta nói rằng ta không biết Ngài, ta sẽ cũng nói dối như các ngươi vậy; song ta biết Ngài, và ta giữ lời Ngài.
56Na pa Abraham loh kai kah khohnin a hmuh ham te a kohoe tih a hmuh vaengah omngaih,” a ti nah.
56Cha các ngươi là Aùp-ra-ham đã nức lòng nhìn thấy ngày của ta; người đã thấy rồi, và mừng rỡ.
57Te dongah Judah rhoek loh amah te, “Kum sawmnga na lo hlan dae Abraham na hmuh pawn a?” a ti na uh.
57Người Giu-đa nói rằng: Thầy chưa đầy năm mươi tuổi, mà đã thấy Aùp-ra-ham!
58Jesuh loh amih te, “ Nangmih taengah rhep rhep ka thui, Abraham a om hlanah ka om coeng,” a ti nah.
58Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, trước khi chưa có Aùp-ra-ham, đã có ta.
59Te vaengah amah te dae ham lungto a rhuh uh. Tedae Jesuh loh a thuh tak tih bawkim lamkah vik cet.
59Bấy giờ chúng lấy đá đặng quăng vào Ngài; nhưng Đức Chúa Jêsus đi lén trong chúng, ra khỏi đền thờ.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.