Johan 11
Baibal Olcim (Matupi Chin)Translation
Baibal Olcim (Matupi Chin)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Te vaengah Mary neh a manuca Martha kah a kho Bethany kah Lazarus tah satlo la om.
1Có một người đau, tên là La-xa-rơ, ở Bê-tha-ni, là làng của Ma-ri và chị người là Ma-thê.
2Tekah Mary tah Boeipa te botui neh aka hluk tih a kho te a sam neh aka huih ni. Anih kah nganpa Lazarus tah tlo.
2Ma-ri là người đã xức dầu thơm cho Chúa, và lấy tóc mình lau chân Ngài; chính anh người là La-xa-rơ đang đau.
3Te dongah amih boeina loh Jesuh te a tah tih, “Boeipa, na lungnah te tlo coeng he,” a ti nah.
3Vậy, hai chị em sai người đến thưa cùng Đức Chúa Jêsus rằng: Lạy Chúa, nầy, kẻ Chúa yêu mắc bịnh.
4Jesuh loh a yaak vaengah, “ Hekah tloh tah dueknah la om mahpawh tedae Pathen kah thangpomnah ham ni. Te daengah ni te lamloh Pathen capa te a thangpom eh?,” a ti nah.
4Đức Chúa Jêsus vừa nghe lời đó, bèn phán rằng: Bịnh nầy không đến chết đâu, nhưng vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, hầu cho Con Đức Chúa Trời bởi đó được sáng danh.
5Te vaengah Jesuh loh Martha, a mana neh Lazarus te a lungnah.
5Vả, Đức Chúa Jêsus yêu Ma-thê, em người, và La-xa-rơ.
6Tedae a tloh te a yaak vaengah a om nah hmuen ah hnin nit bet naeh.
6Khi Ngài nghe người nầy đau, bèn ở lại hai ngày nữa trong nơi Ngài đang ở.
7Te phoeiah hnukbang rhoek te, “ Judea la koep cet uh sih,” a ti nah.
7Rồi đó, Ngài phán cùng môn đồ rằng: Chúng ta hãy trở về xứ Giu-đê.
8Hnukbang rhoek loh amah te, “Rhabbi, Judah rhoek loh nang dae ham m'mae uh pueng lalah te la koep na cet aya?,” a ti uh.
8Môn đồ thưa rằng: Thưa thầy, hôm trước dân Giu-đa tìm ném đá thầy, thầy còn trở lại nơi họ sao!
9Jesuh loh, “ Hnin at te khonoek loh hlainit a om moenih a? Khat khat long ni khothaih ah a pongpa atah he Diklai kah vangnah te a hmuh dongah tongtah pawh .
9Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Trong ban ngày há chẳng phải có mười hai giờ sao? Nếu ai đi ban ngày, thì không vấp, vì thấy sự sáng của thế gian nầy.
10Tedae pakhat loh khoyin ah a pongpa atah anih ah vangnah a om pawt dongah a tongtah,” a ti nah.
10Nhưng nếu ai đi ban đêm, thì vấp, vì không có sự sáng.
11Hekah he a thui phoeiah amih te, “ Mamih paya Lazarus ip tih anih haeng ham ka cet ni,” a ti nah.
11Ngài phán như vậy, rồi tiếp rằng: La-xa-rơ, bạn ta, đang ngủ; nhưng ta đi đánh thức người.
12Te dongah hnukbang rhoek loh amah taengah, “Boeipa, a ih atah daem bitni,” a ti na uh.
12Môn đồ thưa rằng: Thưa Chúa, nếu người ngủ, chắc sẽ được lành.
13Jesuh loh anih kah dueknah kawng a thui. Tedae amih loh aka ip kah duemnah kawng a thui la a poek uh.
13Vả, Đức Chúa Jêsus phán lời đó chỉ về sự chết của La-xa-rơ; song môn đồ tưởng nói về giấc ngủ thường.
14Te dongah Jesuh loh amih taengah sayalh la, “ Lazarus duek coeng .
14Đức Chúa Jêsus bèn nói tỏ tường cùng môn đồ rằng: La-xa-rơ chết rồi.
15Tedae nangmih ham ka omngaih. Te daengah ni pahoi ka om pawt te na tangnah uh eh. Tedae anih taengla cet uh sih,” a ti nah.
15Ta vì các ngươi mừng không có ta tại đó, để cho các ngươi tin; nhưng chúng ta hãy đi đến cùng người.
16Te dongah Didymus la a khue hnukbang Thomas loh, “Amah taengah duek puei ham mamih khaw cet uh sih,” a ti.
16Nhân đó, Thô-ma, gọi là Đi-đim, nói với môn đồ khác rằng: Chúng ta cũng hãy đi tới đó đặng chết với Ngài!
17Jesuh a pha vaengah anih te hlan khuiah hnin li a om coeng te a hmuh.
17Khi Đức Chúa Jêsus đến nơi, thấy đã chôn La-xa-rơ trong mộ bốn ngày rồi.
18Bethany te Jerusalem phatom kah phalong hlainga tluk a hla ah om.
18Vả, thành Bê-tha-ni cách thành Giê-ru-sa-lem chỉ độ mười lăm ếch-ta-đơ.
19Te vaengah Judah rhoek khaw Martha neh Mary te a nganpa kongah suem hamla muep pawk uh.
19Có nhiều người Giu-đa đã đến đó đặng yên ủi Ma-thê và Ma-ri về sự anh chết.
20Te dongah Jesuh ha lo te Martha loh a yaak vaengah anih te a doe. Tedae Mary tah im ah ngol.
20Lúc Ma-thê nghe Đức Chúa Jêsus đến, thì đi đón Ngài; nhưng Ma-ri thì ngồi tại nhà.
21Te vaengah Martha loh Jesuh te, “Boeipa, he ah na om koinih ka nganpa duek pawt sue.
21Ma-thê thưa cùng Đức Chúa Jêsus rằng: Lạy Chúa, nếu Chúa có đây, thì anh tôi không chết;
22Tedae tahae pataeng Pathen taengah na bih te tah Pathen loh nang m'paek ni tila ka ming,” a ti nah.
22mà bây giờ tôi cụng biết mọi điều Ngài sẽ xin Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời ắt ban cho.
23Jesuh loh anih te, “ Na nganpa te thoo bitni ,” a ti nah.
23Đức Chúa Jêsus phán rằng: Anh ngươi sẽ sống lại.
24Martha loh, “Hnukkhueng khohnin kah thohkoepnah dongah thoo ni tila ka ming ta,” a ti nah.
24Ma-thê thưa rằng: Tôi vẫn biết rằng đến sự sống lại ngày cuối cùng, anh tôi sẽ sống lại.
25Jesuh loh anih taengah, “ Kai tah thohkoepnah neh hingnah la ka om. Kai ah aka tangnah tah duek cakhaw hing ni .
25Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta là sự sống lại và sự sống; kẻ nào tin ta thì sẽ sống, mặc dầu đã chết rồi.
26Kai aka tangnah tih aka hing boeih tah kumhal duela duek loengloeng mahpawh, he he na tangnaha? ” a ti nah.
26Còn ai sống và tin ta thì không hề chết. Ngươi tin điều đó chăng?
27Amah te, “Thuem ngawn Boeipa, nang tah Diklai la aka lo Pathen capa Khrih ni tila kan tangnah,” a ti nah.
27Người thưa rằng: Lạy Chúa, phải, tôi tin Chúa là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời, là Đấng phải đến thế gian.
28Hekah he a thui phoeiah cet tih a mana Mary a khue tih, “Saya ha pai tih nang n'khue,” duem a ti nah.
28Người nói xong, liền về, lén kêu em là Ma-ri, mà rằng: Thầy ở đằng kia, đang gọi em lại.
29Te loh a yaak vaengah hlat thoo tih Jesuh taengla cet.
29Ma-ri vừa nghe mấy lời, vội vàng đứng dậy đến cùng Ngài.
30Te vaengah kho khuila Jesuh ham pha hlan dae Martha loh a doe nah hmuen ah om pueng.
30Vả, Đức Chúa Jêsus chưa vào trong làng, nhưng còn đứng nơi Ma-thê đến đón Ngài.
31Im ah anih aka om puei Judah rhoek neh anih aka suem rhoek loh Mary hlat thoo tih a caeh te a hmuh uh vaengah aka rhap ham hlan la cet tila a poek uh tih a vai uh.
31Khi những người Giu-đa đang ở trong nhà với Ma-ri và yên ủi người, thấy người đứng dậy đi ra vội vã như vậy, thì theo sau, vì nghĩ rằng người đến mộ đặng khóc.
32Mary loh Jesuh om nah a pha tih amah te a hmuh vaengah a kho kung ah bakop tih, “Boeipa, he ah na om koinih ka nganpa duek mahpawh,” a ti nah.
32Nhưng Ma-ri, lúc đã tới nơi Đức Chúa Jêsus đứng, vừa thấy Ngài, thì sấp mình xuống chân Ngài mà nói rằng: Lạy Chúa, nếu có Chúa đây, thì anh tôi không chết!
33Jesuh loh anih a rhah neh anih aka puei uh Judah rhoek kah a rhah te a hmuh vaengah a mueihla thanueih tih thuen.
33Đức Chúa Jêsus thấy người khóc, và những người Giu-đa đi với người cũng khóc, bèn đau lòng cảm động mà phán rằng: Các ngươi đã chôn người ở đâu?
34Te dongah, “ Melam anih na khueh uh? ” a ti nah. Te vaengah Jesuh te, “Boeipa, ha lo lamtah so lah,” a ti na uh.
34Chúng thưa rằng: Lạy Chúa, xin hãy lại coi.
35Jesuh tah mikphi bo.
35Đức Chúa Jêsus khóc.
36Te dongah Judah rhoek loh, “Lazarus bahoeng a lungnah ke,” a ti uh.
36Người Giu-đa bèn nói rằng: Kìa, người yêu La-xa-rơ là dường nào!
37Tedae amih khuikah hlangvang loh, “Mikdael kah mik te aka tueng sak long he te khaw a duek pawt ham a saii thai moenih a?,” a ti uh.
37Có một vài người trong chúng nói: Người đã mở mắt kẻ mù được, há chẳng có thể cũng làm cho người nầy không chết sao?
38Te dongah Jesuh tah a khuiah thanueih tih hlan la koep ha pawk. Tedae hlan te lungko la om tih tungto khoep yalh.
38Bấy giờ, Đức Chúa Jêsus lại đau lòng nữa, bèn đến phần mộ: mộ bằng một cái hang, trước cửa hang có một hòn đá chận lại.
39Jesuh loh, “ Lungto te khoe uh lah,” a ti nah hatah aka duek kah a ngannu Martha loh, “Boeipa, hninli om coeng tih rhim coeng,” a ti nah.
39Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy lăn hòn đá đi. Ma-thê, là em gái kẻ chết, thưa rằng: Lạy Chúa, đã có mùi, vì người nằm đó bốn ngày rồi.
40Jesuh loh anih te, ““ Na tangnah atah Pathen kah thangpomnah na hmuh ni tila nang taengah ka thui moenih a? ” a ti nah.
40Đức Chúa Jêsus lại phán: Ta há chẳng từng nói với ngươi rằng nếu ngươi tin thì sẽ thấy sự vinh hiển của Đức Chúa Trời sao?
41Te dongah lungto te a khoe uh. Te phoeiah Jesuh loh a mik te a dai hang tih, “ A Pa, kai ol na hnatun dongah nang te kan uem .
41Vậy, họ lăn hòn đá đi. Đức Chúa Jêsus bèn nhướng mắt lên trời mà rằng: Thưa Cha, tôi tạ ơn Cha, vì đã nhậm lời tôi.
42Te phoeiah kai kah he na yaak yoeyah tila ka ming. Tedae hlangping loh m'pai thil dongah nang loh kai nan tueih te a tangnah uh ham ka thui,” a ti.
42Tôi biết rõ rằng Cha nhậm lời tôi luôn, nhưng tôi nói vậy là vì cớ đoàn dân nầy đứng chung quanh tôi, hầu cho họ tin rằng ấy chính Cha là Đấng đã sai tôi đến.
43Te phoeiah ol ue neh pang tih, “ Lazarus, pawk ha cu,” a ti nah.
43Khi Ngài nói xong, bèn kêu lên một tiếng lớn rằng: Hỡi La-xa-rơ, hãy ra!
44Te vaengah aka duek te a kut a kho himbaipen neh a yen tih a hman kah te himbaica neh a yol doela ha thoeng. Jesuh loh amih taengah, “ Anih te hlam uh lamtah caeh sak uh,” a ti nah.
44Người chết đi ra, chân tay buộc bằng vải liệm và mặt thì phủ khăn. Đức Chúa Jêsus phán cùng chúng rằng: Hãy mở cho người, và để người đi.
45Te dongah Judah khuikah te yet, Mary taengla a pha tih a saii te aka hmu long tah amah te a tangnah uh.
45Có nhiều người Giu-đa đã đến cùng Ma-ri và thấy sự Đức Chúa Jêsus làm, bèn tin Ngài.
46Tedae amih khuikah a ngen tah Pharisee rhoek taengla cet uh tih Jesuh loh a saii te a thui pa uh.
46Nhưng một vài người trong bọn đó đi tìm người Pha-ri-si, mách cho họ sự Đức Chúa Jêsus đã làm.
47Te dongah khosoihham rhoek neh Pharisee rhoek loh khoboei a hueh uh tih, “Hekah hlang loh miknoek muep a saii dongah metlam n'saii eh?
47Các thầy tế lễ cả và người Pha-ri-si nhóm tòa công luận, bàn rằng: Người nầy làm phép lạ nhiều lắm, chúng ta tính thế nào?
48Hetlam he anih n'hlahpham uh koinih anih te boeih a tangnah uh ni. Te vaengah Roman rhoek te ha lo uh vetih mamih kah a hmuen neh namtu khaw a khuen ni,” a ti uh.
48Nếu chúng ta để cho người làm, thì thiên hạ tin người, rồi dân Rô-ma sẽ đến diệt nơi nầy và cả nước chúng ta nữa.
49Tedae amih khuikah pakhat, tevaeng kum kah khosoihham la aka om Kaiaphas loh amih te, “Nangmih loh pakhat khaw na ming uh moenih.
49Nhưng một người trong bọn họ, tên là Cai-phe, làm thầy cả thượng phẩm đang niên, nói rằng: Các ngươi chẳng biết gì hết!
50Hlang pakhat loh pilnam yueng la duek vetih namtu tah boeih a poci pawt koinih nangmih ham rhoei ngai tila na poek uh moenih,” a ti nah.
50Các ngươi chẳng xét rằng thà một người vì dân chịu chết, còn hơn cả nước bị hư mất.
51Tedae hekah he amah lamkah a thui moenih. Tedae te kum kah khosoihham la a om dongah namtu ham Jesuh duek la a cai te ni a phong coeng.
51Vả, người nói điều đó chẳng phải tự mình, nhưng bởi làm thầy cả thượng phẩm đang niên, người nói tiên tri về Đức Chúa Jêsus sẽ vì dân mà chết;
52Te phoeiah namtom ham bueng pawt tih taekyak tangtae Pathen ca rhoek te khaw pakhat la coicip ham pawn ni.
52và không những vì dân thôi, mà cũng để nhóm con cái Đức Chúa Trời đã tản lạc lại làm một đoàn.
53Te dongah te khohnin lamloh amah te ngawn ham a moeh uh.
53Từ ngày đó, chúng lập mưu giết Ngài.
54Te dongah Jesuh loh Judah rhoek lakliah sayalh la pongpa voelpawh. Tedae kho yoei kah khosoek Ephraim la a khue kho ah cet tih hnukbang rhoek neh naeh uh.
54Cho nên Đức Chúa Jêsus không tỏ mình rõ ràng trong vòng dân Giu-đa nữa, song Ngài đi trong miền gần đồng vắng, nơi một thành gọi là Eùp-ra-im; và ở lại đó với môn đồ.
55Te vaengah Judah rhoek kah yoom tah om tom coeng. Te dongah amamih te ciim ham yoom hlanah paeng lamloh Jerusalem la muep cet uh.
55Lễ Vượt Qua của dân Giu-đa gần đến, có lắm người trong xứ lên thành Giê-ru-sa-lem trước ngày lễ để tẩy uế.
56Jesuh te a toem uh tih bawkim khuiah a pai uh vaengah, “Nangmih ta metlam na poek uh? Khotue la ha pawk loengloeng mahpawh, “tila khat neh khat thui uh thae.
56Vậy, chúng kiếm Đức Chúa Jêsus, và đứng trong đền thờ, nói với nhau rằng: Các ngươi tưởng thế nào? Người không đến giữ lễ hay sao?
57Tedae khosoihham rhoek neh Pharisee rhoek loh, “Khat khat loh a om nah a ming atah amah te tuuk ham ha puen saeh, “tila ol a paek uh coeng.
57Vả, các thầy tế lễ cả và người Pha-ri-si đã ra lịnh, nếu ai biết Đức Chúa Jêsus ở đâu, thì phải mách với họ, để họ bắt Ngài.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.