Ioane 16
Meriam Mir GospelsTranslation
Meriam Mir Gospels
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Kaka emetu uabi detager abele gaire lu, ueakai uaba nole mar bamarida.
1Ta bảo các ngươi những điều đó, để cho các ngươi khỏi vấp phạm.
2Uiaba ko uabi dituaki sunagolam: kerker ko tabarki abele le uabi ipitare, E ko dikiapor E Ade ra dorge ikeli.
2Họ sẽ đuổi các ngươi ra khỏi nhà hội; vả lại, giờ đến, khi ai giết các ngươi, tưởng rằng thế là hầu việc Đức Chúa Trời.
3Uiaba ko ikeli abele gaire lu, abelelam uiaba nole umer kak Aba, a kaka.
3Họ sẽ làm điều đó, vì không biết Cha, cũng không biết ta nữa.
4Kaka uabi detagereda abele gaire lu, ueakai kerker tabarki, uaba ko dikiaporauem kaka emetu uabi detaut. Kaka nole uabi detager abele gaire lu gizlam, abelelam kaka uabi dog emri.
4Nhưng ta đã bảo những điều đó cho các ngươi, để khi giờ sẽ đến, các ngươi nhớ lại rằng ta đã nói những điều đó rồi. Từ lúc ban đầu ta chưa nói cho các ngươi, vì ta đang ở cùng các ngươi.
5Peirdi kai nabakeamulu abim kari namarida: nole nerute le uabielam kari eutumer, kega, Mai na gedim bakeam?
5Hiện nay ta về cùng Đấng đã sai ta đến, và trong các ngươi chẳng một ai hỏi ta rằng: Thầy đi đâu?
6Uaba nerkep au okasosok, abelelam kaka uabi detager abele gaire mer.
6Nhưng vì ta đã nói những điều đó cho các ngươi, thì lòng các ngươi chứa chan sự phiền não.
7Ege kaka uabi detager ageakar, kega, Debele uabim kaka bakeam: abelelam ese kaka nole bakeam, Upiatidar nole tabarki uabim: ese kaka bakeam, kaka ko abi emarida uabim.
7Dầu vậy, ta nói thật cùng các ngươi: Ta đi là ích lợi cho các ngươi; vì nếu ta không đi, Đấng Yên ủi sẽ không đến cùng các ngươi đâu; song nếu ta đi, thì ta sẽ sai Ngài đến.
8E emetu tabarki, E ko geseb ge akmerem tonar uit, a barkak, a mer barditug:
8Khi Ngài đến thì sẽ khiến thế gian tự cáo về tội lỗi, về sự công bình và về sự phán xét.
9Uitelam, abelelam uiaba nole karim oituli:
9Về tội lỗi, vì họ không tin ta;
10Barkaklam, abelelam kaka Babaim bakeam, uaba nole iako kari asmer kak:
10về sự công bình, vì ta đi đến cùng Cha, và các ngươi chẳng thấy ta nữa;
11Mer bardituglam, abelelam emetu barditug geseb kole.
11về sự phán xét, vì vua chúa thế gian nầy đã bị đoán xét.
12Kara no nagri dordor lu ko uabi detager, epe peirdi uaba nole umer kak egaret.
12Ta còn có nhiều chuyện nói với các ngươi nữa; nhưng bây giờ những điều đó cao quá sức các ngươi.
13Mamoro E tabarki, pe ageakar Lamar, E ko uabi eguatumur ageakar uridili: abelelam E nole tababu detaut: mamoro E ko detager abele gaire lu E asoli: uabi detomeret gaire lu ko tabarki.
13Lúc nào Thần lẽ thật sẽ đến, thì Ngài dẫn các ngươi vào mọi lẽ thật; vì Ngài không nói tự mình, nhưng nói mọi điều mình đã nghe, và tỏ bày cho các ngươi những sự sẽ đến.
14E ko kari naospili: abelelam E ko tais karielam, a uabi detomertare.
14Aáy chính Ngài sẽ làm sáng danh ta, vì Ngài sẽ lấy điều thuộc về ta mà rao bảo cho các ngươi.
15Abele gaire lu Babi dog kara lu; abelelam kaka detaut, kega, E ko karielam tais, a uabi detomertare.
15Mọi sự Cha có, đều là của ta; nên ta nói rằng Ngài sẽ lấy điều thuộc về ta mà rao bảo cho các ngươi vậy.
16Menaba, uaba nole kari asmer kak: iako menaba, uaba ko kari nasmer, abelelam kai Abem nabakeamulu.
16Còn ít lâu các ngươi sẽ chẳng thấy ta; rồi ít lâu nữa các ngươi lại thấy ta, vì ta đi về cùng Cha.
17Uader abara kaimeg giz tababu mer atager, kega, Nalu E meribim detaut, kega, Menaba, uaba nole kari nasmer; iako menaba, uaba ko kari nasmer abelelem kai Abem nabakeamulu?
17Bấy giờ, một vài môn đồ nói với nhau rằng: Ngài dạy: Còn ít lâu các ngươi sẽ chẳng thấy ta; rồi ít lâu nữa các ngươi lại thấy ta; và rằng: Vì ta về cùng Cha; thế là làm sao?
18Uiaba detager, kega, Nalu E detaut, kega, Menaba? Meriba nole akmer kak abele mer E detaut.
18Vậy, môn đồ nói rằng: Ngài nói: ỗt lâu, là nghĩa gì? Chúng ta không hiểu Ngài nói về việc chi.
19Iesu umele uiaba laglag abim bautumer, E uiabim detaut, kega, Nako uaba uabu deraimerare kara merlam detaut, kega, Menaba, uaba nole kari nasmer, iako menaba, uaba ko kari nasmer?
19Đức Chúa Jêsus hiểu ý môn đồ muốn hỏi, bèn phán rằng: Ta vừa nói: Còn ít lâu các ngươi sẽ chẳng thấy ta; rồi ít lâu nữa các ngươi lại thấy ta; các ngươi đang hỏi nhau về nghĩa câu ấy đó chi.
20Ageakar, ageakar, kaka uabi detagereda, kega, Ua ko ebazoli, a okabatagereda, a geseb ko sererge: uaba ko okasosok, abele uaba okasosok ko depegili ko sererge.
20Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, các ngươi sẽ khóc lóc, than vãn, còn người đời sẽ mừng rỡ; các ngươi sẽ ở trong sự lo buồn, nhưng sự lo buồn các ngươi sẽ đổi làm vui vẻ.
21Kosker maike esmelu E beber nerkep, abelelam abara kerker tabarki; emetu uerem esmelu, E nole iako dikiapor abele asiasi, abelelam E sererge nerute le geseb ge esmelu.
21Người đàn bà, lúc sanh đẻ thì đau đớn, vì giờ mình đến rồi; song khi đứa con đã lọt lòng, người không còn nhớ sự khốn khổ nữa, mừng rằng mình đã sanh ra một người trong thế gian.
22Peirdi, uaba nagri okasosok: kai iako uabi dasmer, ege uaba nerkep sererge, nole nerute le uabi sererge itker.
22Khác nào như các ngươi hiện ở trong cơn đau đớn, nhưng ta sẽ lại thấy các ngươi, thì lòng các ngươi vui mừng, và chẳng ai cướp lấy sự vui mừng các ngươi được.
23Abele gerger dali uaba nole nerute lu damos karielam. Ageakar, ageakar, kaka uabi detager, kega, Abele gaire lu uaba damos Babalam muige kara nei ge, E ko uabi dekuarare.
23Trong ngày đó, các ngươi không còn hỏi ta về điều chi nữa. Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, điều chi các ngươi sẽ cầu xin nơi Cha, thì Ngài sẽ nhân danh ta mà ban cho các ngươi.
24Emeret a peirdi, uaba nole damos nerute lu muige kara nei ge: debele damsare, a uaba ko egaret, ueakai uaba sererge mitkar.
24Đến bây giờ, các ngươi chưa từng nhân danh ta mà cầu xin điều chi hết. Hãy cầu xin đi, các ngươi sẽ được, hầu cho sự vui mừng các ngươi được trọn vẹn.
25Kaka emetu uabi detager abele gaire lu mer babisdarie: kerker ia uatabaruk, kaka nole uabi detager mer babisdarie, epe kaka ko uabim paret kak detaut Abem.
25Ta đã dùng ví dụ mà nói cho các ngươi mọi điều đó. Giờ đến, là khi ta chẳng còn dùng ví dụ mà nói cùng các ngươi nữa, nhưng khi ấy ta sẽ nói rõ ràng về Cha cho các ngươi.
26Abele gerger, uaba ko damos kara neilam: kaka nole uabi detager, kega, Kaka Abem damos uabim.
26Trong ngày đó, các ngươi sẽ nhân danh ta mà cầu xin, ta chẳng nói rằng ta vì các ngươi sẽ cầu xin Cha đâu;
27Aba uabi omare, abelelam uaba kari lag, a egaret, kega, Kaka Babalam.
27vì chính Cha yêu thương các ngươi, nhân các ngươi đã yêu mến ta, và tin rằng ta từ nơi Cha mà đến.
28Kaka nabue Babalam, a gesepem tabarki: kaka iako geseb dekaelu, a Abem bakeam.
28Ta ra từ Cha mà đến thế gian; nay ta lìa bỏ thế gian mà về cùng Cha.
29Abara kaimeg giz abi detager, kega, Dasmer, peirdi, mama paret kak detaut, a nole mer babisdarie detaut.
29Các môn đồ thưa rằng: Bây giờ thầy phán rõ ràng, và không phán bằng lời ví dụ.
30Peirdi, keriba umele mama opasereret gaire lu uridili, nole lu kar marim nerute le ko marim eutumer: abelelam keriba dikiapor mama tarabu Adelam.
30Bây giờ chúng tôi biết thầy thông biết mọi điều, không cần phải có ai hỏi thầy; bởi đó nên chúng tôi tin thầy ra từ Đức Chúa Trời.
31Iesu uiabi detaut, kega, Nako, peirdi, uaba dikiapor?
31Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Bây giờ các ngươi tin chăng?
32Dasmer, kerker ko tabarki, ia ike, uaba ko kepu bamarida boaiem, a kaka tepteb: nolea kaka tepteb, abelelam Aba kari dog.
32Nầy, giờ đến, đã đến rồi, là khi các ngươi sẽ tản lạc, ai đi đường nấy, và để ta lại một mình; nhưng ta không ở một mình, vì Cha ở cùng ta.
33Kaka uabi detager abele gaire lu, ueakai uaba mapodan nagri karielam. Uaba asiasi nagri geseb ge: ua ko saserim, kaka emetu geseb degmori.
33Ta đã bảo các ngươi những điều đó, hầu cho các ngươi có lòng bình yên trong ta. Các ngươi sẽ có sự hoạn nạn trong thế gian, nhưng hãy cứ vững lòng, ta đã thắng thế gian rồi!
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.