Romanos
Chapter 7
Bíblia Portuguesa Mundia…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Bíblia Portuguesa Mundial (Brazilian Portuguese)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Ou vocês não sabem, irmãos (pois falo aos que conhecem a lei), que a lei tem domínio sobre o homem enquanto ele vive?
1Hỡi anh em (vì tôi nói với những kẻ biết luật pháp), vậy anh em há chẳng biết rằng luật pháp chỉ cai trị người ta khi còn sống hay sao?
2Pois a mulher casada está ligada pela lei ao marido enquanto ele vive; mas, se o marido morrer, ela fica livre da lei que a ligava ao marido.
2Cho nên, đàn bà có chồng, hễ chồng còn sống bao lâu, thì luật pháp buộc phải theo chồng bấy lâu; nhưng nếu chồng chết, thì người vợ được thoát khỏi luật pháp đã buộc mình với chồng.
3Assim, pois, se, enquanto o marido vive, ela se unir a outro homem, será chamada adúltera. Mas se o marido morrer, ela está livre da lei, de modo que não é adúltera, embora se una a outro homem.
3Vậy nếu đang lúc chồng còn sống, mà vợ đi lấy người khác, thì phải bị kêu là đàn bà ngoại tình; nhưng nếu chồng chết, thì vợ được buông tha khỏi luật pháp, dầu lấy người khác cũng chẳng phải là đàn bà ngoại tình vậy.
4Portanto, meus irmãos, vocês também foram mortos para a lei por meio do corpo de Cristo, para que fossem unidos a outro, àquele que foi ressuscitado dentre os mortos, a fim de que produzamos fruto para Deus.
4Hỡi anh em ta, anh em cũng như vậy, bởi thân thể của Đấng Christ, anh em đã chết về luật pháp, đặng thuộc về người khác, tức là người đã từ kẻ chết sống lại, hầu cho chúng ta được kết quả cho Đức Chúa Trời.
5Pois, quando estávamos na carne, as paixões pecaminosas, despertadas por meio da lei, operavam em nossos membros para produzir fruto para a morte.
5Vì khi chúng ta còn sống theo xác thịt, thì các tình dục xấu xa bị luật pháp xui khiến, hành động trong chi thể chúng ta và kết quả cho sự chết.
6Mas agora fomos desobrigados da lei, tendo morrido para aquilo que nos prendia, de modo que servimos de maneira nova, no espírito, e não no modo antigo da letra.
6Nhưng bây giờ chúng ta đã chết về luật pháp, là điều bắt buộc mình, thì được buông tha khỏi luật pháp đặng hầu việc Đức Chúa Trời theo cách mới của Thánh Linh, chớ không theo cách cũ của văn tự.
7O que diremos então? A lei é pecado? De modo nenhum! Contudo, eu não teria conhecido o pecado, a não ser por meio da lei. Pois eu não teria conhecido a cobiça, se a lei não dissesse: “Não cobiçarás.”
7Vậy chúng ta sẽ nói làm sao? Luật pháp há là tội lỗi sao? Chẳng hề như vậy! Nhưng tôi chỉ bởi luật pháp mà biết tội lỗi; vì nếu luật pháp không nói: Ngươi chớ tham lam, thì tôi đã không biết sự tham lam.
8Mas o pecado, encontrando ocasião por meio do mandamento, produziu em mim toda espécie de cobiça. Pois, sem a lei, o pecado está morto.
8Aáy là tội lỗi đã nhân dịp, bởi điều răn mà sanh ra mọi thứ ham muốn trong lòng tôi: vì không có luật pháp thì tội lỗi chết đi.
9Outrora eu vivia sem a lei, mas quando o mandamento veio, o pecado reviveu e eu morri.
9Ngày xưa tôi không có luật pháp mà tôi sống; nhưng khi điều răn đến, thì tội lỗi lại sống,
10e descobri que o mandamento destinado à vida resultou em morte para mim;
10còn tôi thì chết; vậy thì té ra điều răn vốn nên làm cho tôi sống, đã dắt tôi đến sự chết.
11pois o pecado, encontrando ocasião por meio do mandamento, me enganou, e por meio dele me matou.
11Vì tội lỗi đã nhân dịp, dùng điều răn dỗ dành tôi và nhân đó làm cho tôi chết.
12Portanto, a lei de fato é santa, e o mandamento santo, justo e bom.
12Aáy vậy, luật pháp là thánh, điều răn cũng là thánh, công bình và tốt lành.
13Então, aquilo que é bom se tornou morte para mim? De modo nenhum! Mas o pecado, para que se mostrasse pecado, produziu morte em mim por meio do que é bom, a fim de que, por meio do mandamento, o pecado se tornasse extremamente pecaminoso.
13Vậy thì điều lành trở làm cớ cho tôi chết sao? Chẳng hề như vậy! Nhưng ấy là tội lỗi đã làm cho tôi chết, hầu khi nó nhân điều lành làm chết tôi, tự bày ra nó là tội lỗi; đến nỗi tội lỗi nhân điều răn trở nên cực ác.
14Pois sabemos que a lei é espiritual, mas eu sou carnal, vendido como escravo ao pecado.
14Vả, chúng ta biết luật pháp là thiêng liêng; nhưng tôi là tánh xác thịt đã bị bán cho tội lỗi.
15Pois eu não entendo o que estou fazendo. Pois não pratico o que desejo fazer; mas o que odeio, isso eu faço.
15Vì tôi không hiểu điều mình làm: tôi chẳng làm điều mình muốn, nhưng làm điều mình ghét.
16Mas se faço o que não desejo, concordo com a lei que ela é boa.
16Song nếu tôi làm điều mình chẳng muốn, thì bởi đó nhận biết luật pháp là tốt lành.
17Assim, agora, já não sou eu quem faz isso, mas o pecado que habita em mim.
17Bấy giờ chẳng phải tôi làm điều đó nữa, nhưng ấy là tội lỗi ở trong tôi.
18Pois eu sei que em mim, isto é, na minha carne, não habita bem nenhum. Tenho o desejo de fazer o bem, mas não consigo realizá-lo.
18Vả, tôi biết điều lành chẳng ở trong tôi đâu, nghĩa là trong xác thịt tôi, bởi tôi có ý muốn làm điều lành, nhưng không có quyền làm trọn;
19Pois o bem que desejo, não faço; mas o mal que não desejo, esse eu pratico.
19vì tôi không làm điều lành mình muốn, nhưng làm điều dữ mình không muốn.
20Mas se faço o que não desejo, já não sou eu quem faz isso, mas o pecado que habita em mim.
20Ví bằng tôi làm điều mình không muốn, ấy chẳng phải là tôi làm điều đó nữa, nhưng là tội lỗi ở trong tôi vậy.
21Descubro, então, esta lei: quando desejo fazer o bem, o mal está presente em mim.
21Vậy tôi thấy có luật nầy trong tôi: khi tôi muốn làm điều lành, thì điều dữ dính dấp theo tôi.
22Pois, no meu íntimo, tenho prazer na lei de Deus,
22Vì theo người bề trong, tôi vẫn lấy luật pháp Đức Chúa Trời làm đẹp lòng;
23mas vejo uma lei diferente em meus membros, guerreando contra a lei da minha mente e levando-me cativo à lei do pecado que está em meus membros.
23nhưng tôi cảm biết trong chi thể mình có một luật khác giao chiến với luật trong trí mình, bắt mình phải làm phu tù cho luật của tội lỗi, tức là luật ở trong chi thể tôi vậy.
24Miserável homem que sou! Quem me livrará do corpo desta morte?
24Khốn nạn cho tôi! Ai sẽ cứu tôi thoát khỏi thân thể hay chết nầy?
25Dou graças a Deus por meio de Jesus Cristo, nosso Senhor! Assim, pois, com a mente, eu mesmo sirvo à lei de Deus, mas com a carne, à lei do pecado.
25Cảm tạ Đức Chúa Trời, nhờ Đức Chúa Jêsus Christ, là Chúa chúng ta! Như vậy, thì chính mình tôi lấy trí khôn phục luật pháp của Đức Chúa Trời, nhưng lấy xác thịt phục luật pháp của tội lỗi.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.