Olphong
Chapter 18
Baibal Olcim (Matupi Chin)
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers

Olphong 18

Baibal Olcim (Matupi Chin)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1He phoeiah a tloe puencawn vaan lamkah aka suntla te ka hmuh. Saithainah a khueh khungdaeng tih a thangpomnah neh diklai te a tue.
1Sau điều đó, tôi thấy một vị thiên sứ khác ở trên trời xuống, người có quyền lớn, và sự vinh hiển người chiếu rực rỡ trên đất.
2Te vaengah ol ue la pang tih, “Tim coeng Babylon puei te tim coeng. Te dongah rhaithae rhoek kah khosaknah hmuen neh rhalawt mueihla boeih kah thongim, rhalawt vathawt boeih kah thongim, rhalawt satlung neh hmuhuet koi boeih kah thongim la poeh coeng.
2Người kêu lớn tiếng rằng: Ba-by-lôn lớn đã đổ rồi, đã đổ rồi! Thành ấy đã trở nên chỗ ở của các ma quỉ, nơi hang hố của mọi tà thần, hang hố của mọi giống chim dơ dáy mà người ta gớm ghiếc,
3A Cukhalnah thinsa misurtui te namtom boeih loh a ok uh tih diklai manghai rhoek tah anih taengah cukhalh uh. A thaomnah neh pangdoknah lamkah diklai hnoyoi rhoek loh a khueh tawn uh,” a ti.
3vì mọi dân tộc đều uống rượu dâm loạn buông tuồng của nó, vì các vua thế gian đã cùng nó phạm tội tà dâm, và vì các nhà buôn trên đất đã nên giàu có bởi sự quá xa hoa của nó.
4Te phoeiah vaan lamkah ol tloe ka yaak tih, “Ka pilnam aw, a taeng lamloh cet laeh. Te daengah ni a tholhnah dongah na thum uh pawt vetih, a lucik te na dang uh pawt eh.
4Tôi lại nghe một tiếng khác từ trên trời đến rằng: Hỡi dân ta; hãy ra khỏi Ba-by-lôn, kẻo các ngươi dự phần tội lỗi với nó, cũng chịu những tai họa nó nữa chăng;
5A tholhnah loh vaan duela kap tih a boethae te Pathen loh a ming.
5vì tội lỗi nó chất cao tày trời, và Đức Chúa Trời đã nhớ đến các sự gian ác nó.
6Anih loh a thuung vanbangla amah khaw thuung uh lamtah a khoboe tarhing ah rhaepnit rhaepnit la boengloeng a thoek tangtae khuiah rhaepnit la thoek uh.
6Các ngươi hãy làm cho nó điều nó đã làm cho kẻ khác; hãy báo lại gấp hai công việc nó, hãy pha cho nó gấp hai chén mà nó đã pha cho kẻ khác.
7Amah tah muep thangpom uh tih pang a dok. Anih te heyet tah phaepnah neh ngueknah pae uh. A thinko ah tah, “Boeinu’ la ka ngol tih nuhmai la ka om pawh. Te dongah ngueknah ka ming loeng loeng mahpawh,” a ti.
7Nó càng khoe mình và chìm đắm trong sự xa hoa bao nhiêu, thì hãy làm cho nó đau đớn khốn khó bấy nhiêu. Bởi trong lòng nó tự nghĩ rằng: Ta là một nữ vương ngự trên ngôi mình, không phải là đàn bà góa, và ta sẽ không thấy sự than khóc bao giờ.
8Te dongah a lucik tah khohnin pakhat ah dueknah, ngueknah, khokha la ha pawk vetih hmai neh a hoeh ni. Boeipa Pathen aka tlung loh anih te lai a tloek thil coeng.
8Vậy cho nên đồng trong một ngày, những tai nạn nầy sẽ giáng trên nó, nào sự chết, nào sự than khóc, nào đói kém, và nó sẽ bị lửa thiêu mình đi nữa; vì Đức Chúa Trời phán xét nó là Chúa có quyền lực.
9Te dongah a taengah cukhalh neh pang aka dok diklai manghai rhoek loh a ung kah hmaikhu te a hmuh uh vaengah anih ham rhap uh vetih a rhaengsae uh ni.
9Các vua thế gian đã phạm tội dâm dục và say đắm trong cuộc xa xỉ với nó, thấy khói của sự cháy nó thì sẽ vì nó khóc lóc thở than.
10A phaepnah te rhihnah neh hoei pai uh vetih, “Anunae, anunae, kho puei Babylon kho tlung te khonoek pakhat neh nang kah laitloeknah ha pawk ca,” a ti uh.
10Sợ phải cùng chịu hình khổ với nó, nên chúng đứng xa mà rằng: Khốn thay! Khốn thay! Ba-by-lôn là thành lớn, là thành cường thạnh kia! Trong một giờ mà sự phán xét ngươi đã đến rồi.
11Diklai hnoyoi rhoek tah rhap uh tih a soah nguek uh. Amih kah hnopai te a lai pah voel pawt dongah.
11Các nhà buôn trên đất cũng vì nó khóc lóc rầu rĩ, vì không ai mua hàng hóa mình nữa:
12Hnopai te sui neh ngun khaw, lung vang neh laitha khaw, hnithen neh daidi hni, puu a nukyum, thing botui neh vueino hno cungkuem boeih khaw, thing then tubael boeih khaw, rhohum khaw, thi khaw, lungbok khaw,
12hàng hóa là vàng, bạc, ngọc, châu, vải gai mịn màu tía, lụa, màu điều; các hạng gỗ thơm; các thức đồ bằng ngà voi, bằng gỗ quí, bằng đồng, bằng sắt, bằng đá hoa;
13Thingsa khaw, anhoi khaw, bo-ul khaw, botui khaw, hmueihtui khaw, misurtui khaw, situi khaw, vaidam khaw, cang khaw, saelhung khaw, tu khaw, marhang khaw, leng khaw, pumsa rhoek khaw, hlang mueihla khaw lai uh voel pawh.
13nhục quế, sa nhân, hương, dầu thơn, nhũ hương; rượu, dầu, bột mì mịn, lúa mì; bò, trừu, ngựa, xe, tôi mọi và linh hồn người ta nữa.
14Na hinglu kah hoehhamnah na thaih hmin te khaw nang lamkah khum coeng. A kuel a pang neh a cim thik boeih khaw nang lamloh poci coeng. Te rhoek te phoe loengloeng voel mahpawh.
14Các thứ trái mà lòng người mơ ước đó đã mất đi rồi, mọi sự rực rỡ sang trọng đó cũng đã hư mất khỏi ngươi; người ta sẽ không hề tìm thấy nữa.
15Anih lamkah aka khuehtawn hnoyoi rhoek tah a phaepnah te rhihnah neh a hla lamkah pai uh vetih a rhah neh nguek uh ni.
15Các nhà buôn đó đã nhờ Ba-by-lôn làm nên giàu, sẽ đứng cách xa, vì e phải chia khổ cùng nó; họ sẽ than khóc và buồn rầu, mà rằng:
16Anunae, anunae, khopuei khotung aih., hnithen, daidi neh a nukyum aka bai, sui, lungto lungvang, laitha neh aka thoeihcam uh aih.
16Khốn thay! Khốn thay! thành lớn kia, đã từng mặc vải gai mịn, màu tía và màu điều, rực rỡ những vàng ngọc cùng hột châu! Trong một giờ, sự giàu có sang trọng dường bao đã biến mất hết!
17Khuehtawn heyet loh khonoek pakhat ah a poeih mai,” a ti uh. Sangpho boei boeih neh hmuen tom la aka hlaikan sangpho hlang rhoek khaw, tuitunli kah a saii boeih long khaw a hla lamkah pai uh.
17Phàm những lái tàu, những người đi biển, và thủy thủ, những kẻ buôn bán trên mặt biển, đều đứng cách xa;
18Anih a ung kah hmaikhu te a hmuh uh vaengah pang uh tih, “kho puei te metlam phek a om?” a ti uh.
18khi thấy khói của sự cháy thành thì cùng kêu lên rằng: Có thành nào đã được như thành lớn nầy ư?
19A lu ah lainaeng khaw a phul uh tih pang uh. Rhap uh tih nguek uh. Anunae, anunae kho puei aih te, a khohrhang lamloh tuitunli ah sangpho aka khueh boeih loh a khuehtawn uh te khonoek pakhat loh a poeih mai,” a ti uh.
19Chúng lấy bụi rắc lên đầu mình, thương khóc than vãn, mà rằng: Khốn thay! Khốn thay! thành lớn nầy đã lấy sự giàu có mình làm giàu cho mọi kẻ có tàu trên biển, mà trong một giờ, đã hóa thành một chỗ hoang vu!
20Vaan neh, hlangcim rhoek neh, caeltueih rhoek neh, tonghma rhoek aw anih te uum laeh. Nangmih kah laitloeknah te anih soah Pathen loh lai a tloek coeng.
20Hỡi trời, hãy vui mừng về việc nó đi, và các thánh, các sứ đồ, các tiên tri, cũng hãy mừng rỡ đi; vì Đức Chúa Trời đã xử công bình cho các ngươi trong khi Ngài xét đoán nó.
21Te phoeiah puencawn aka tlung pakhat loh phaklung len bang lungto te a phil tih tuitunli la a voeih. Babylon kho puei tah kuthlahnah neh a voeih pai vetih koep phoe voel mahpawh.
21Bấy giờ một vị thiên sứ rất mạnh lấy một hòn đá như cối xay lớn quăng xuống biển mà rằng: Ba-by-lôn là thành lớn cũng sẽ bị quăng mạnh xuống như vậy, và không ai tìm thấy nó nữa.
22Rhotoeng tum rhoek, lamcawn rhoek, phavit tum rhoek, oluengkung rhoek kah ol khaw na khuiah na ya voel bal mahpawh. Kutthai boeih khaw na khuiah bungkhutnah hmuh voel bal mahpawh. Phaklung ol khaw na khuiah na ya voel bal mahpawh.
22Không ai còn nghe thấy nơi ngươi những tiếng kẻ khảy đàn cầm, kẻ đánh nhạc, kẻ thổi sáo và thổi kèn nữa. ỳ đó cũng sẽ không thấy có thợ nào nữa, dầu nghề gì mặc lòng, và tiếng cối xay cũng không nghe nữa.
23Hmaiim a vangnah khaw na khuiah vang voel bal mahpawh. Yulokung neh vasakung kah ol khaw na khuiah na ya voel bal mahpawh. Na rhunsi khuehnah lamloh namtom boeih a rhaithi dongah na hnoyoi rhoek te diklai hlanglen la om uh.
23Aùnh sáng đèn sẽ không chiếu nơi đó nữa, và người ta cũng chẳng còn nghe tiếng vợ chồng mới cưới, bởi vì các nhà buôn của ngươi đều là kẻ tôn trọng trên đất, bởi vì mọi nước đều bị tà thuật ngươi lừa dối.
24Tedae a ah tonghma rhoek, hlangcim rhoek neh diklai hmankah a ngawn uh boeih kah a thii te a hmuh coeng.
24Aáy chính trong thành nầy, mà đã tìm thấy huyết các đấng tiên tri, các thánh đồ, và hết thảy những kẻ đã bị giết trong thế gian.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.