Xuất
Chapter 34
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Baibal Olcim (Matu…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibal Olcim (Matupi Chin)
1Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Hãy đục hai bảng đá như hai bảng trước; rồi ta sẽ viết trên hai bảng nầy các lời đã ở nơi hai bảng kia, mà ngươi đã làm bể.
1BOEIPA loh Moses taengah, “Namah loh lamhma kah bangla lungto cabael panit saek lamtah te cabael dongah lamhma kah aka rhek cabael dongah aka om ol te ka daek eh.
2Ngày mai, hãy chực cho sẵn, vừa sáng lên trên đỉnh núi Si-na-i, đứng trước mặt ta tại đó.
2Mincang ah sikim la om lamtah mincang neh Sinai tlang la ha luei. Te phoeiah tlang lu ah kamah taengla pahoi pai.
3Không ai nên lên theo cùng ngươi hết, khắp núi không nên thấy có người, và chiên, bò cũng chẳng nên ăn cỏ nơi núi nầy nữa.
3Tedae na taengah hlang ha luei boel saeh lamtah hlang pakhat pataeng tlang tom ah phoe boel saeh. Boiva neh saelhung khaw tlang dan ah he luem uh boel saeh,” a ti nah.
4Môi-se bèn đục hai bảng đá, y như hai bảng trước; dậy sớm, cầm theo tay hai bảng đó lên trên núi Si-na-i, y như lời Đức Giê-hô-va đã phán dặn.
4Te dongah lungto cabael rhoi te lamhma kah bangla a saek. Mincang ah Moses te thoo tih BOEIPA loh amah a uen bangla Sinai tlang ah yoeng. Te vaengah lungto cabael rhoi te a kut dongah a pom.
5Đức Giê-hô-va ngự xuống trong đám mây, đứng gần bên Môi-se và hô danh Giê-hô-va.
5Te phoeiah BOEIPA te cingmai neh ha rhum tih a taengah pahoi pai. Te vaengah BOEIPA ming neh a doek.
6Ngài đi ngang qua mặt người, hô rằng: Giê-hô-va! Giê-hô-va! là Đức Chúa Trời nhân từ, thương xót, chậm giận, đầy dẫy ân huệ và thành thực,
6BOEIPA te a hmai ah a pah pah vaengah tah, “Yahweh, Yahweh, thinphoei neh lungvatnah Pathen, thintoek a ueh tih sitlohnah neh oltak dongah boeiping coeng.
7ban ơn đến ngàn đời, xá điều gian ác, tội trọng, và tội lỗi; nhưng chẳng kể kẻ có tội là vô tội, và nhân tội tổ phụ phạt đến con cháu trải ba bốn đời.
7Sitlohnah he thawngkhat ham khaw a kueinah dongathaesainah, boekoeknah neh dumlai khaw a phueih pah. Tedae pa rhoek kathaesainah a cawh pah te ca rhoek so neh ca kah ca rhoek soah khongthum khongli hil a hmil rhoe a hmil moenih,” tila tamhoe.
8Môi-se lật đật cúi đầu xuống đất và thờ lạy, mà thưa rằng:
8Te vaengah Moses tah diklai la koe buluk tih bakop.
9Lạy Chúa! Nếu tôi được ơn trước mặt Chúa, xin hãy đi giữa chúng tôi, vì dân nầy là một dân cứng cổ. Xin hãy tha sự gian ác cùng tội lỗi, và nhận chúng tôi làm cơ nghiệp Chúa.
9Tedae Moses loh, “Ka Boeipa aw na mik dongah mikdaithen la ka tueng mai khaming. Ka Boeipa kaimih khui ah pongpa laeh. Pilnam he a rhawn mangkhak sitoe cakhaw kaimih kathaesainah neh kaimih kah tholhnah te khodawkngai lamtah kaimih he m'pang mai,” a ti nah.
10Đức Giê-hô-va phán rằng: Nầy, ta lập một giao ước. Trước mặt các dân sự của ngươi, ta sẽ làm các phép lạ chưa hề có làm trên cả mặt đất, hay là nơi dân nào; và toàn dân sự mà trong đó có ngươi, sẽ xem thấy việc Đức Giê-hô-va, vì điều ta sẽ làm cùng ngươi là một điều đáng kinh khiếp.
10Boeipa loh, “Kai loh na pilnam pum hmai ah paipi ka saii ne. Diklai pum neh namtom boeih taengah a suen pawh khobaerhambae te ka saii ni. Te vaengah a khui kah na pilnam boeih loh BOEIPA kah khoboe te hmuh saeh. Nang taengah ka saii te rhih pai saeh.
11Hãy cẩn thận về điều ta truyền cho ngươi hôm nay. Nầy, ta sẽ đuổi khỏi trước mặt ngươi dân A-mô-rít, dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít, và dân Giê-bu-sít.
11Tihnin ah nang kang uen te namah ham ngaithuen. Na mikhmuh lamloh, Amori neh Kanaan khaw, Khitti neh Perizzi khaw, Khivee neh Jebusi ka haek ne.
12Hãy cẩn thận đừng lập giao ước cùng dân của xứ mà ngươi sẽ vào, e chúng nó sẽ thành cái bẫy giữa ngươi chăng.
12Namah khaw ngaithuen, khohmuen khosa rhoek neh paipi na saii ve ne. Namah khaw a khuila na kun vetih namah khui ah hlaeh la poeh ve.
13Nhưng các ngươi hãy phá hủy bàn thờ, đập bể pho tượng và đánh hạ các thần chúng nó.
13A hmueihtuk te palet pah lamtah a kaam te phaek pah. Anih kah Asherah khaw vung pah.
14Vì ngươi đừng sấp mình xuống trước mặt Chúa nào khác, bởi Đức Giê-hô-va tự xưng là Đức Chúa Trời kỵ tà; Ngài thật là một Đức Chúa Trời kỵ tà vậy.
14A ming mah thatlai Yahweh coeng tih Pathen tah a thatlai thai dongah pathen tloe taengah bakop boeh.
15Hãy cẩn thận đừng lập giao ước cùng dân của xứ đó, e khi chúng nó hành dâm cùng các tà thần chúng nó và tế các tà thần của chúng nó, có kẻ mời, rồi ngươi ăn của cúng họ chăng.
15A pathen taengkah a cukhalh neh a pathen te a nawn uh dongah a hmueih te caak ham nang n'khue akhaw khohmuen kah khosa taengah moi na bop ve.
16Lại đừng cưới con gái chúng nó cho con trai ngươi, e khi con gái chúng nó hành dâm với các tà thần chúng nó, quyến dụ con trai ngươi cũng hành dâm cùng các tà thần của chúng nó nữa chăng.
16A canu te na capa ham na lo cakhaw a canu khaw a pathen hnukah cukhalh uh. Te dongah na ca rhoek te amih kah pathen taengah cukhalh hae ni.
17Ngươi chớ đúc thần tượng.
17Mueihlawn pathen khaw namah ham saii boeh.
18Ngươi hãy giữ lễ bánh không men. Nhằm k” tháng lúa trỗ, hãy ăn bánh không men trong bảy ngày, như ta đã truyền dặn ngươi; vì nhằm tháng đó ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô.
18Nang kang uen bangla vaidamding khotue te hnin rhih yaeh lamtah vaidamding mah ca. Egypt lamloh Abib hla dongah na thoh dongah Abib hla ah tingtunnah om saeh.
19Các con trưởng nam đều thuộc về ta; cùng các con đực đầu lòng của bầy súc vật ngươi, hoặc bò hoặc chiên cũng vậy.
19Bung lamkah cacuek boeih, na boiva dongkah vaito neh tu cacuek a tal boeih he kamah kah ni.
20Nhưng ngươi sẽ bắt một chiên con hay là dê con mà chuộc một con lừa đầu lòng. Nếu chẳng chuộc nó, ngươi hãy bẻ cổ nó. Ngươi sẽ chuộc các con trưởng nam mình; và chớ ai đi tay không đến chầu trước mặt ta.
20Tedae laak cacuek tah tu neh lat. Na lat pawt bal atah pahoi at laeh. Na capa caming boeih tah lat lamtah ka mikhmuh ah kuttling la phoe boel saeh.
21Trong sáu ngày ngươi hãy làm công việc, nhưng qua ngày thứ bảy hãy nghỉ, dẫu mùa cày hay mùa gặt ngươi cũng phải nghỉ vậy.
21Hnin rhuk khuiah thotat lamtah hnin rhih dongah tah lophoh vaengah khaw duem lamtah cangah vaengah khaw nduem.
22Đầu mùa gặt lúa mì, ngươi hãy giữ lễ của các tuần lễ; và cuối năm giữ lễ mùa màng.
22Cang dongkah cangah vaengkah thaihcuek khotue yalh neh kum thoknah cangyom khotue te namah ham saii.
23Thường năm ba lần, trong vòng các ngươi, mỗi người nam sẽ ra mắt Chúa Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
23Namah khuikah tongpaca boeih tah kum khat ah voei thum Israel Pathen, Boeipa Yahovah mikhmuh ah phoe saeh.
24Vì ta sẽ đuổi các dân khỏi trước mặt ngươi, ta sẽ mở rộng bờ cõi ngươi; và trong khi ngươi lên ra mắt Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, mỗi năm ba lần, thì sẽ chẳng ai tham muốn xứ ngươi hết.
24Namtom te na mikhmuh lamloh ka haek vetih na khorhi khaw kang aeh ni. BOEIPA na Pathen mikhmuh la kum khat ah voei thum phoe ham na caeh daengah ni na khohmuen te hlang loh ham veet pawt eh.
25Ngươi chớ dâng huyết của con sinh tế ta cùng bánh pha men; thịt của con sinh về lễ Vượt-qua chớ nên giữ đến sáng mai.
25Kai kah hmueih thii te tolrhu neh ngawn boeh. Yoom khotue kah hmueih loh mincang duela rhaeh boel saeh.
26Ngươi sẽ đem dâng hoa quả đầu mùa của đất sanh sản vào đền Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời ngươi. Ngươi chớ nấu thịt dê con trong sữa mẹ nó.
26Na khohmuen kah tanglue thaihcuek te BOEIPA na Pathen im la khuen. Maae ca te a manu suktui neh thong boeh,” a ti nah.
27Đức Giê-hô-va cũng phán cùng Môi-se rằng: Hãy chép các lời nầy; vì theo các lời nầy mà ta lập giao ước cùng ngươi và cùng Y-sơ-ra-ên.
27Te phoeiah BOEIPA loh Moses te, “He ol he namah ham daek laeh. Kamah ka dongkah ol nen he nang taeng neh Israel taengah paipi ka saii,” a ti nah.
28Môi-se ở đó cùng Đức Giê-hô-va trong bốn mươi ngày và bốn mươi đêm, không ăn bánh, cũng không uống nước; Đức Giê-hô-va chép trên hai bảng đá các lời giao ước, tức là mười điều răn.
28BOEIPA neh a om vaengah khothaih hni sawmli, khoyin hnin sawmli buh khaw ca pawh, tui khaw o pawh. Te vaengah paipi ol te cabael rhoi dongah ol lung rha la a daek.
29Khi Môi-se tay cầm hai bảng chứng đi xuống núi Si-na-i, chẳng biết rằng da mặt mình sáng rực bởi vì mình hầu chuyện Đức Giê-hô-va.
29Moses te Sinai tlang lamloh a suntlak vaengah Moses kut dongah olphong cabael rhoi khaw om. Tlang lamloh a suntlak neh amah te a voek pueng dongah a maelhmai vin a phii te khaw Moses loh ming pawh.
30Nhưng A-rôn cùng cả dân Y-sơ-ra-ên nhìn Môi-se thấy mặt người sáng rực, sợ không dám lại gần.
30Aaron neh Israel ca boeih loh Moses te a hmuh uh vaengah a maelhmai vin tarha a phii coeng dongah a taengla mop ham a rhih uh.
31Môi-se bèn gọi họ, A-rôn cùng các hội trưởng đến gần; rồi nói chuyện cùng họ.
31Tedae Moses loh amih te a khue dongah Aaron neh rhaengpuei kah khoboei boeih tah anih taengla mael uh tih Moses loh amih te a voek.
32Kế sau, cả dân Y-sơ-ra-ên đến gần, người truyền dặn các điều của Đức Giê-hô-va đã phán dặn mình nơi núi Si-na-i.
32Te phoeiah Israel ca rhoek boeih te mop uh. Te vaengah Sinai tlang ah BOEIPA anih taengkah a thui boeih te amih a uen.
33Môi-se thôi nói chuyện cùng họ, liền lấy lúp che mặt mình lại.
33Moses loh amih taengah a thui te a khah van neh a maelhmai te a lumuekhni neh a dah.
34Khi Môi-se vào trước mặt Đức Giê-hô-va đặng hầu chuyện Ngài, thì dở lúp lên cho đến chừng nào lui ra; đoạn ra nói lại cùng dân Y-sơ-ra-ên mọi lời Ngài đã phán dặn mình.
34Tedae BOEIPA amah te voek ham a mikhmuh la kun tih amah ha pawk daengah lumuekhni a lim pueng. Ha pawk phoeiah tah amah a uen te Israel ca rhoek ham a thui pah.
35Dân Y-sơ-ra-ên nhìn mặt Môi-se thấy da mặt người sáng rực, thì Môi-se lấy lúp che mặt mình cho đến khi nào vào hầu chuyện Đức Giê-hô-va.
35Israel ca rhoek loh Moses maelhmai te a hmuh vaengah Moses kah maelhmai vin a phii pah. Tedae Boeipa amah te voek ham a kun hil Moses loh lumuekhni neh a maelhmai te a dah.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.