Ê-xơ-tê
Chapter 4

Ê-xơ-tê

Vietnamese Bible (1923 t…
vs Baibal Olcim (Matu…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibal Olcim (Matupi Chin)
1Vả, khi Mạc-đô-chê biết hết mọi điều ấy, bèn xé áo mình, mặc một cái bao và phủ tro, rồi đi ra giữa thành, lấy tiếng lớn kêu khóc cách cay đắng.
1A saii boeih te Mordekai loh a ming. Te dongah Mordekai loh a himbai te a phen tih tlamhni neh hmaiphu a yil. Khopuei khui ah cet tih a pang khaw a len la hlut hlut pang.
2Người cũng đi đến tận trước cửa vua; vì ai mặc cái bao, bị cấm không cho vào cửa của vua.
2Tedae tlamhni pueinak neh manghai vongka khuila a kun uh noek pawt dongah manghai vongka hmai hil tah cet.
3Phàm trong mỗi tỉnh, nơi nào mạng lịnh vua và chiếu chỉ người đã đến, thì trong dân Giu-đa bèn có sự thảm sầu, kiêng cữ ăn, khóc lóc và kêu van; lại có nhiều người lấy bao và tro làm giường mình.
3A paeng, paeng boeih ah manghai kah ol neh a olkhan loh a pha nah hmuen kah Judah ham tah nguekcoinah muep om. Te dongah yaehnah, rhahnah rhaengsaelung neh, tlamhni, hmaiphu neh muep bol uh.
4Các nàng hầu bà Ê-xơ-tê và những hoạn quan bà đều đến thuật lại sự ấy cho bà; hoàng hậu bèn buồn rầu lắm, gởi quần áo cho Mạc-đô-chê mặc, để lột bao gai khỏi mình người; nhưng người không khứng nhận.
4Te vaengah Esther kah hula rhoek neh a imkhoem te cet tih a taengah a puen pah dongah manghainu khaw sut poi. Te dongah Mordekai te himbai bai sak ham neh a dongkah a tlamhni te dul pah ham a tueih pah dae doe pawh.
5Bấy giờ bà Ê-xơ-tê gọi Ha-thác, một hoạn quan của vua, mà vua đã đặt hầu chực bà, rồi biểu người đi đến Mạc-đô-chê hỏi cho biết có việc gì, và nhân sao đã có vậy.
5Esther loh a mikhmuh ah aka thotat manghai imkhoem Hathakh te a khue tih Mordekai kawng te metla om tih mebang khaw ming hamla a uen.
6Ha-thác bèn đi ra đến Mạc-đô-chê tại nơi phố thành ở trước cửa vua.
6Hathakh khaw khopuei toltung ah manghai vongka hmai kah Mordekai taengla cet.
7Mạc-đô-chê thuật lại mọi điều đã xảy đến mình, và số bạc Ha-man đã hứa đóng vào kho vua đặng có phép tuyệt diệt dân Giu-đa.
7Te vaengah Mordekai loh amah aka mah boeih khaw, amih Judah, Judah milh sak ham Haman loh manghai baiphaih khuiah a paek ham tangka ciim a thui te khaw,
8Người cũng đưa cho hoạn quan một bản sao lục chiếu chỉ đã truyền ra tại Su-sơ đặng tuyệt diệt dân Giu-đa, để hoạn quan chỉ cho bà Ê-xơ-tê xem và biết, cùng biểu người khuyên bà vào cùng vua, trước mặt vua nài xin ơn vua và cầu khẩn giùm cho dân tộc mình.
8amih mitmoeng sak ham Shushan ah olkhan catlaep ca a paek te Esther tueng ham neh a taengah thui pah ham khaw Hathakh taengah a paek. Esther te manghai taengah amah hloep ham aka kun la, a pilnam ham a mikhmuh ah a moeh la uen ham khaw a taengah a thui pah.
9Ha-thác bèn trở về thuật lại cho bà Ê-xơ-tê mọi lời của Mạc-đô-chê.
9Hathakh te mael tih Mordekai ol te Esther taengah a thui pah.
10Bấy giờ bà Ê-xơ-tê nói với Ha-thác, và sai người nói lại với Mạc-đô-chê rằng:
10Esther loh Hathakh te a voek tih Mordekai ham te anih taengah,
11Các thần bộc và dân chúng các tỉnh của vua đều biết rằng hễ ai, bất luận nam hay nữ, vào cùng vua tại nội viện, mà không được lịnh vời, thì ai đó theo luật đã định tất phải bị xử tử đi, miễn là được vua giơ cây phủ việt vàng ra, thì mới sống; nhưng đã ba mươi ngày rày tôi không được vời vào cung vua.
11“Manghai kah sal rhoek boeih neh pilnam khaw, manghai kah paeng long khaw, huta neh tongpa boeih khaw, a olkhan pakhat nen khaw a khue pawt ah vongup khui la manghai taengla aka mop tah a duek ham coeng ni, manghai loh a taengah sui mancai a doe bueng ni dawk a hing khaw na ming uh. Tedae kamah he manghai taengla kun ham akhaw khohnin sawmthum khuiah n'khue moenih,” tila a uen.
12Người ta thuật lại cho Mạc-đô-chê các lời của bà Ê-xơ-tê.
12Esther kah ol te Mordekai taengla a puen pa uh.
13Mạc-đô-chê biểu đáp lại cùng bà Ê-xơ-tê rằng: Chớ thầm tưởng rằng ở trong cung vua, người sẽ được thoát khỏi phải hơn mọi người Giu-đa khác;
13Mordekai loh Esther taengla ol a mael hamla, “Judah boeih akhaw manghai im kah tah loeih ni tila na hinglu khuiah lutlat boeh.
14vì nếu ngươi làm thinh trong lúc nầy đây, dân Giu-đa hẳn sẽ được tiếp trợ và giải cứu bởi cách khác, còn ngươi và nhà cha ngươi đều sẽ bị hư mất; song nào ai biết rằng chẳng phải vì cớ cơ hội hiện lúc nầy mà ngươi được vị hoàng hậu sao?
14Tahae tue ah he kholak ah na ngam khaw na ngam mai khaming. Judah ham khangnah he hmuen tloe lamloh ha pai bitni. Tedae namah neh na pa imkhui loh na milh uh khaw u long a ming. Tedae hae tue vaengkah ham manghai la na poeh?” a ti nah.
15Bà Ê-xơ-tê bèn biểu đáp lại cùng Mạc-đô-chê rằng:
15Te dongah Esther loh Mordekai taengla ol a mael tih,
16Hãy đi nhóm hiệp các người Giu-đa ở tại Su-sơ, rồi hãy vì tôi mà kiêng cữ ăn trong ba ngày và đêm, chớ ăn hay uống gì hết; tôi và các nàng hầu tôi cũng sẽ kiêng cữ ăn nữa; như vậy, tôi sẽ vào cùng vua, là việc trái luật pháp; nếu tôi phải chết thì tôi chết.
16“Cet laeh, Shushan ah aka phoe Judah pum te calui lamtah kai hamla yaeh uh laeh. Khoyin khothaih hnin thum khuiah caak ca uh boeh, tui khaw o uh boeh. Kai neh ka tanu rhoek khaw te tlam te ka yaeh uh eh. Te phoeiah tah olkhan bangla a om pawt akhaw manghai taengla ka cet vetih a milh khaw ka milh mai bitni,” a ti nah.
17Mạc-đô-chê bèn đi, và làm theo mọi điều bà Ê-xơ-tê đã dặn biểu mình.
17Te dongah Mordekai te cet tih Esther loh a taengah a uen bangla boeih a saii.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.