II Tim 4
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibal Olcim (Matupi Chin)
1Ta ở trước mặt Đức Chúa Trời và trước mặt Đức Chúa Jêsus Christ là Đấng sẽ đoán xét kẻ sống và kẻ chết, nhân sự đến của Ngài và nước Ngài mà răn bảo con rằng:
1Pathen neh Khrih Jesuh hmaiah kang uen. A phoenah, a ram neh aka duek aka hing laitloek ham cai.
2hãy giảng đạo, cố khuyên, bất luận gặp thời hay không gặp thời, hãy đem lòng rất nhịn nhục mà bẻ trách, nài khuyên, sửa trị, cứ dạy dỗ chẳng thôi.
2Ol te hoe pah. Na bihoep tamto akhaw pai thil laeh. Thinsennah thuituennah cungkuem neh toeltham lamtah, sim lamtah, hloep laeh.
3Vì sẽ có một thời kia, người ta không chịu nghe đạo lành; nhưng vì họ ham nghe những lời êm tai, theo tư dục mà nhóm họp các giáo sư xung quanh mình,
3Aka cuem thuituennah neh a yaknaem uh pawt vaengah ni a tue a pai eh. Tedae a hoehhamnah bangla amamih kah hnavue aka thak saya rhoek te a kuk uh ni.
4bịt tai không nghe lẽ thật, mà xây hướng về chuyện huyễn.
4Te phoeiah oltak lamkah a hna te a khong uh vetih cil taengla mael uh ni.
5Nhưng con, phải có tiết độ trong mọi sự, hãy chịu cực khổ, làm việc của người giảng Tin Lành, mọi phận sự về chức vụ con phải làm cho đầy đủ.
5Tedae nang tah a cungkuem ah cue uh lamtah olthangthen bibi te patang doeah saii. Na bibi te khaw ming lah.
6Về phần ta, ta đang bị đổ ra làm lễ quán, k” qua đời của ta gần rồi.
6Ka phum uh coeng tih ka voeinah tue khaw ha pai coeng.
7Ta đã đánh trận tốt lành, đã xong sự chạy, đã giữ được đức tin.
7Aka then thingthuelnah te ka thingthuel coeng. Hma te ka khah coeng. Tangnah te ka kuem coeng.
8Hiện nay mão triều thiên của sự công bình đã để dành cho ta; Chúa là quan án công bình, sẽ ban mão ấy cho ta trong ngày đó, không những cho ta mà thôi, nhưng cũng cho mọi kẻ yêu mến sự hiện đến của Ngài.
8Tahae lamkah kai ham duengnah rhuisam te a khueh coeng. Te te aka dueng laitloekkung boeipa loh tekah khohnin ah kai n'thuung ni. Te phoeiah kai bueng pawt tih a phoenah aka lungnah rhoek boeih te khaw a paek ni.
9Hãy cố gắng đến cùng ta cho kíp;
9Kai taengah koe aka pawk la na haam mako.
10vì Đê-ma đã lìa bỏ ta rồi, tại người ham hố đời nầy, và đã đi qua thành Tê-sa-lô-ni-ca. Cơ-rết-xen đi trong xứ Ga-li-lê, còn Tít thì đi xứ Đa-ma-ti rồi.
10Demas loh kai n'phap tih ta kumhal kah he a lungnah. Te dongah Thessalonika la, Kresens te Galati la, Titu te Dalmatia la vik cet.
11Chỉ có một mình Lu-ca ở với ta. Hãy đem Mác đến với con, vì người thật có ích cho ta về sự hầu việc lắm.
11Ka taengah Luka bueng ni aka om. Marku te lo lamtah namah neh ha puei uh. Kai ham tah bibi dongah congpang koila om.
12Ta đã sai Ti-chi-cơ sang thành Ê-phê-sô.
12Tedae Tukhiko te Ephisa la ka tueih coeng.
13Khi con sẽ đến, hãy đem áo choàng mà ta để lại tại nhà Ca-bút, thành Trô- ách, cùng những sách vở nữa, nhất là những sách bằng giấy da.
13Na lo vaengah Troas kah Karpuh taengah himbai neh cayol olpuei la maehpho ka khueh te hang khuen.
14A-léc-xan-đơ; thợ đồng, đã làm hại ta nhiều lắm; tùy theo công việc hắn, Chúa sẽ báo ứng.
14Rhohum aka bi Alexander loh kai soah thae muep a tueng sak. Boeipa loh anih te amah khoboe bangla a thuung bitni.
15Con cũng phải coi chừng người đó, vì hắn hết sức chống trả lời chúng ta.
15Mamih kah olka te bahoeng a kamkaih dongah nang khaw anih te ngaithuen.
16Khi ta binh vực mình lần thứ nhất, chẳng có ai giúp đỡ; hết thảy đều lìa bỏ ta. Nguyền xin điều đó đừng đổ tội về họ!
16Kai kah olthungnah lamhma vaengah kai taengla ha pawk uh pawh. Hlang boeih loh kai n'phap cakhaw amih te ngaiyaknah boel sih.
17Nhưng Chúa đã giúp đỡ ta và thêm sức cho ta, hầu cho Tin Lành bởi ta được rao truyền đầy dẫy, để hết thảy dân ngoại đều nghe; ta lại đã được cứu khỏi hàm sư tử.
17Tedae Boeipa loh kai m'pai puei tih kai n'thaphoh. Te daengah ni kai lamkah olhoe te a soep sak vetih namtom loh boeih a yaak eh. Te tlam ni sathueng ka lamloh n'hlawt.
18Chúa sẽ giải thoát ta khỏi mọi điều ác và cứu vớt ta vào trong nước trên trời của Ngài. Nguyền xin sự vinh hiển về nơi Ngài muôn đời không cùng! A-men.
18Boeipa loh khoboe thae boeih lamkah kai n'hlawt vetih vaan kah amah ram khuila n'daem sak ni. Amah te kumhal ah kumhal duela thangpomnah om saeh. Amen.
19Hãy chào thăm Bơ-rít-ca và A-qui-la, cùng người nhà Ô-nê-si-phô-rơ.
19Priska neh Aquila, Onesiphor imkhuikho te toidal ne.
20Ê-rát ở lại tại thành Cô-rinh-tô, còn Trô-phim đang đau ốm, ta để ở lại tại thành Mi-lê.
20Erastu te Kawrin ah om tih Trophimu te a tloh dongah Miletu ah ka khueh.
21Con hãy cố sức đến trước mùa đông. Ơ-bu-lu, Bu-đen, Li-nút, Cơ-lau-đia cùng anh em thảy đều chào thăm con.
21Sikca hlanah pawk hamla na haam mako. Ubuluh, Puden, Linu, Kalaudia neh manuca rhoek boeih loh nang kutn'tuuk uh.
22Nguyền xin Chúa ở cùng tâm thần con! Cầu xin ân điển ở cùng các anh em!
22Boeipa loh na mueihla te om puei saeh. Lungvatnah tah nangmih taengah om saeh.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.