Mwet Nununku 11
Bible Mutal (Kosraean)Translation
Bible Mutal (Kosraean)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Jephthah el sie mwet mweun Gilead su ku ac pulaik. Nina kial uh sie mutan kosro su eis molin kosro lal, ac papa tumal pa Gilead.
1Giép-thê, người Ga-la-át, là tay dõng sĩ, con của một người kỵ nữ, và cha là Ga-la-át.
2Oasr pac wen natul Gilead sin mutan kial ah, na ke tulik mukul inge matula elos lusulla Jephthah liki lohm sin papa tumalos ac fahk, “Kom ac fah tia usrui kutena ma lun papa tumasr, mweyen kom ma nutin siena mutan.”
2Vợ của Ga-la-át có sanh cho người những con trai. Khi các con trai của vợ ấy lớn lên, bèn đuổi Giép-thê đi, mà rằng: Mầy không được ăn phần gia tài trong nhà cha chúng ta, vì mầy là con của người đàn bà khác.
3Na Jephthah el kaingla liki tamulel lal ac som muta in acn Tob. Ac ke el muta we, un mwet lusrongten se tuku nu yorol ac welul forfor in acn sac.
3Vậy, Giép-thê trốn xa anh em mình, và ở trong xứ Tóp. Có những đứa du đãng hiệp lại chung quanh Giép-thê, và đi ra với người.
4Tok kutu, na mwet Ammon elos tuku in mweuni mwet Israel.
4Sau một ít lâu, dân Am-môn giao chiến cùng Y-sơ-ra-ên.
5Ke ma inge sikyak ah, mwet kol lun acn Gilead elos som in folokunulma Jephthah liki acn Tob.
5Trong lúc dân Am-môn đánh Y-sơ-ra-ên, các trưởng lão Ga-la-át đi đem Giép-thê ở xứ Tóp về.
6Elos fahk nu sel, “Fahsru kol kut, tuh kut in ku in mweuni mwet Ammon.”
6Họ nói cùng người rằng: Xin hãy đến làm quan tướng chúng ta, chúng ta sẽ đánh dân Am-môn.
7A Jephthah el fahk nu selos, “Kowos tuh lisyula liki lohm sin papa tumuk ke sripen kowos tuh arulana srungayu. Na efu kowos ku sukyu inge ke kowos sun ongoiya?”
7Nhưng Giép-thê đáp cùng các trưởng lão Ga-la-át rằng: Các ông há chẳng phải là kẻ ghét tôi và đuổi tôi khỏi nhà cha tôi sao? Còn bây giờ các ông đang bị cùng-khốn, sao lại đến tôi?
8Elos fahk nu sel Jephthah, “Kut sifilpa foroht nu sum inge mweyen kut lungse kom in wi kut mweuni mwet Ammon, ac kol mwet Gilead nukewa.”
8Các trưởng lão Ga-la-át đáp cùng Giép-thê rằng: Bây giờ chúng ta lại đến cùng ngươi, hầu cho ngươi đi với chúng ta: ngươi sẽ đánh dân Am-môn, rồi sẽ làm đầu của chúng ta, và của hết thảy dân xứ Ga-la-át.
9Jephthah el topuk ac fahk, “Kowos fin folokinyu nu yen sik tuh nga in mweuni mwet Ammon, ac LEUM GOD El fin ase kutangla nu sik, na nga fah mwet kol lowos.”
9Giép-thê lại đáp cùng các trưởng lão Ga-la-át rằng: Ví bằng các ông đem tôi về đặng đánh dân Am-môn, và nếu Đức Giê-hô-va phó chúng nó vào tay tôi, thì tôi sẽ làm đầu các ông chớ.
10Ac elos topuk ac fahk, “Kut insese ke ma kom fahk an, ac LEUM GOD El mwet loh lasr.”
10Các trưởng lão Ga-la-át nói cùng Giép-thê rằng: Chúng ta quả sẽ làm y như lời ngươi đã nói; nguyện Đức Giê-hô-va làm chứng giữa chúng ta!
11Na Jephthah el wi mwet kol lun mwet Gilead inge, ac mwet uh elos akfulatyal ac oru tuh elan mwet kol lalos ac leum faclos. Ac Jephthah el fahkak nunak lal nukewa ye mutun LEUM GOD in acn Mizpah.
11Vậy, Giép-thê đi cùng các trưởng lão Ga-la-át; dân sự lập người làm đầu và tướng; rồi tại Mích-ba Giép-thê lặp lại trước mặt Đức Giê-hô-va hết thảy những lời người đã nói.
12Na Jephthah el supwala mwet utuk kas nu yurin tokosra lun mwet Ammon ke kas se inge, “Sripa fuka se kom tuku lain kut kac an— Efu kom utyak nu in acn sesr uh?”
12Đoạn Giép-thê sai sứ giả đến cùng vua dân Am-môn mà nói rằng: Ta với ngươi có việc chi, nên ngươi kéo đến ta đặng hãm đánh xứ ta?
13Ac tokosra lun mwet Ammon el topuk mwet utuk kas lal Jephthah ac fahk, “Ke mwet Israel elos tuku liki acn Egypt elos tuku twe eisla facl sik, mutawauk ke Infacl Arnon fahla nwe Infacl Jabbok ac sun Infacl Jordan. Inge kowos enenu in folokonma acn inge nufon ke misla.”
13Vua dân Am-môn đáp cùng sứ giả Giép-thê rằng: Aáy bởi Y-sơ-ra-ên khi ra khỏi nước Ê-díp-tô, có chiếm lấy xứ ta từ Aït-nôn cho đến Gia-bốc và Giô-đanh. Bây giờ hãy trả êm lại xứ ấy cho ta.
14Na Jephthah el sifil supwala mwet utuk kas nu yurin tokosra lun mwet Ammon,
14Giép-thê lại sai sứ giả đến cùng vua dân Am-môn đặng nói rằng:
15ke kas se inge, “Tia pwaye lah mwet Israel elos eisla facl Moab ku facl Ammon.
15Giép-thê nói như vầy: Y-sơ-ra-ên không có xâm đoạt địa phận Mô-áp, cũng chẳng có chiếm lấy xứ của dân Am-môn.
16Pa inge ma tuh sikyak ah. Ke mwet Israel elos tuku liki acn Egypt elos fahsr sasla yen mwesis nwe ke elos sun inalok ke Meoa Srusra ac tuku nu Kadesh.
16Song khi Y-sơ-ra-ên ra xứ Ê-díp-tô, thì đi ngang qua đồng vắng cho đến Biển đỏ, rồi tới Ca-đe.
17Na elos supwala mwet utuk kas nu yurin tokosra lun mwet Edom in siyuk tuh elan fuhlela elos in fahla sasla facl sel ah. Tuh tokosra sac el tuh tia fuhlela. Na elos siyuk pac sin tokosra lun mwet Moab, tuh el tia pacna lela elos in fahla in acn sel. Ouinge mwet Israel elos mutana in acn Kadesh.
17Bấy giờ, người sai sứ giả đến vua Ê-đôm đặng tâu rằng: Xin cho tôi đi ngang qua xứ vua. Nhưng vua Ê-đôm không bằng lòng. Người cũng sai sứ giả đến vua Mô-áp, vua Mô-áp cũng không khứng cho, nên Y-sơ-ra-ên cứ ở tại Ca-đe.
18Na elos fahsrna ke yen mwesis, ac ut sisken facl Edom ac Moab nwe ke elos sun kutulap in Moab, nu lefahl eir in Infacl Arnon. Elos tui we, tia tupalla Infacl Arnon mweyen pa ingan masrol nu Moab.
18Đoạn, người lại đi vào đồng vắng, vòng quanh xứ Ê-đôm và xứ Mô-áp; rồi đến cõi phía đông xứ Mô-áp. Người hạ trại ở bên kia Aït-nôn, không vào bờ cõi Mô-áp; vì Aït-nôn là giới hạn của xứ Mô-áp.
19Na mwet Israel elos supwala mwet utuk kas nu yorol Sihon, tokosra lun mwet Amor in acn Heshbon, ac siyuk elan lela elos in fahsr sasla facl sel nu in acn selos sifacna.
19Rốt lại, Y-sơ-ra-ên sai sứ giả đến cùng Si-hôn, vua người A-mô-rít, ở tại Bết-hôn, và dặn nói rằng: Xin để cho chúng tôi đi ngang qua xứ vua đặng đến xứ chúng tôi.
20Na Sihon el tia pac lela mwet Israel in fahsr sasla facl sel. El sap mwet mweun lal nukewa in fahsreni ac muta in acn Jahaz, na elos mweun lain mwet Israel.
20Nhưng Si-hôn không đủ tin dân Y-sơ-ra-ên, nên không cho đi ngang qua xứ mình, bèn hiệp lại cả cơ binh mình, kéo đến đóng trại tại Gia-hát và chống đấu cùng Y-sơ-ra-ên.
21Tusruktu LEUM GOD lun Israel El oru tuh mwet Israel in kutangulla Sihon ac mwet mweun lal. Na mwet Israel elos eisla acn nukewa sin mwet Amor su muta in facl sac tuh in ma lalos.
21Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phó Si-hôn và cả cơ binh người vào tay Y-sơ-ra-ên. Y-sơ-ra-ên đánh bại chúng nó, và lấy toàn xứ dân A-mô-rít, là dân ở miền đó.
22Elos sruokya facl sin mwet Amor nukewa, mutawauk Infacl Arnon su masrol nu eir, utyak nwe ke Infacl Jabbok layen nu epang, ac liki yen mwesis su masrol kutulap, fahla nwe ke Infacl Jordan layen nu roto.
22Vậy, Y-sơ-ra-ên nhận được toàn xứ dân A-mô-rít, từ Aït-nôn cho đến Gia-bốc, và từ đồng vắng cho đến Giô-đanh.
23LEUM GOD lun Israel pa tuh lusak mwet Amor inge ac sang facl sac nu sin mwet Israel, mwet lal.
23Vậy bây giờ, Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã đuổi dân A-mô-rít khỏi trước mặt dân Y-sơ-ra-ên của Ngài rồi, thì ngươi lại muốn chiếm lấy xứ của họ sao!
24Ya kom ac srike in sifilpa eis facl se inge tuh in ma lom— Kom ku in sruokya kutena acn ma Chemosh, god lom, el tuh sot nu sum. A kut, kut ac sruokya acn nukewa ma LEUM GOD lasr El eisla in ma lasr.
24Ngươi há chẳng nhận được đất mà Kê-mốt, là thần của ngươi, đã ban cho ngươi sao? Thế thì, chúng ta cũng nhận được đất của những kẻ nào mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta đã đuổi khỏi trước mặt chúng ta.
25Mea, kom nunku mu kom fas lukel Balak, wen natul Zippor, tokosra lun mwet Moab— Ya oasr pacl Balak el akukuin lain mwet Israel, ku mweun lain kut?
25Vả lại, ngươi cho trổi hơn Ba-lác, con trai Xếp-bô, vua Mô-áp chăng? Hắn há có khi nào cãi cọ hay là chiến đấu cùng Y-sơ-ra-ên chăng?
26Oasr yac tolfoko lac mwet Israel elos sruokya acn Heshbon ac Aroer ac inkul ma oan raunela, oayapa siti nukewa su oan sisken Infacl Arnon. Efu ku kom tia eisla acn inge ke pacl na loeloes se ingan?
26Đang lúc ba trăm năm mà Y-sơ-ra-ên ở tại Hết-bôn và các thành địa hạt nó, A-rô-e và các thành địa hạt nó, cùng hết thảy các thành ở dọc theo Aït-nôn, sao ngươi không lấy nó lại trong khi đó?
27Tia nga pa orekma koluk nu sum uh. Kom pa orekma koluk ke kom mweun lainyu. Misenge LEUM GOD El ac fah oru nununku lal inmasrlon mwet Israel ac mwet Ammon.”
27Vậy, ta không có phạm tội cùng ngươi, nhưng ngươi đã làm quấy cùng ta mà hãm đánh ta. Nguyện Đức Giê-hô-va, là Đấng đoán xét, ngày nay xét đoán giữa dân Y-sơ-ra-ên và dân Am-môn!
28Tusruktu, tokosra lun mwet Ammon el tia lohang nu ke kas inge ma Jephthah el supwala nu yorol.
28Nhưng vua dân Am-môn không khứng nghe lời của Giép-thê sai nói cùng người.
29Na ngunin LEUM GOD tuku nu facl Jephthah. El fahsr sasla in acn Gilead ac Manasseh, ac folokla nu Mizpah in acn Gilead ac som nu Ammon.
29Thần của Đức Giê-hô-va bèn cảm động Giép-thê; người trải qua Ga-la-át và Ma-na-se, sang đến Mích-ba ở Ga-la-át, rồi từ Mích-ba ở Ga-la-át, người đi đánh dân Am-môn.
30Ac Jephthah el orala sie wulela nu sin LEUM GOD ac fahk, “Kom fin oru tuh nga in kutangla mwet Ammon,
30Giép-thê khẩn nguyện cùng Đức Giê-hô-va rằng: Nếu Ngài phó dân Am-môn vào tay tôi, khi tôi thắng chúng nó trở về,
31na mwet se emeet su ilme liki lohm sik ac sunyu ke nga ac kutangla foloko, nga ac fah kisakin nu sum, tuh in mwe kisa firir.”
31hễ chi ở cửa nhà tôi đi ra đầu hết đặng đón rước tôi, thì nấy sẽ thuộc về Đức Chúa Trời, và tôi sẽ dâng nó làm của lễ thiêu.
32Ouinge Jephthah el fahla sasla Infacl Arnon in mweuni mwet Ammon, ac LEUM GOD El sang kutangla nu sel.
32Đoạn, Giép-thê đi đến dân Am-môn đặng giao chiến cùng chúng nó, và Đức Giê-hô-va phó chúng nó vào tay người.
33El tuh mweunelos, mutawauk in acn Aroer fahla rauneak acn Minnith, su oasr siti longoul we, nwe ke el sun acn Abel Keramim. Mwet puspis anwuki ke mweun se inge, na mwet Israel elos kutangla mwet Ammon.
33Người đánh bại chúng nó từ A-rô-e cho đến Mi-nít, và cho đến A-bên-Kê-ra-mim, cùng chiếm lấy của chúng nó hai mươi cái thành. Aáy là một trận-bại rất lớn; dân Am-môn bị phục trước mặt dân Y-sơ-ra-ên.
34Ke Jephthah el folok nu yen sel in acn Mizpah, acn se natul ah el illa in sonol. El srital ke sie tambourine ac onsrosro. El tulik sefanna natul, wangin pac tulik saya.
34Giép-thê trở về nhà mình tại Mích-ba; kìa, con gái người ra đón-rước người, có cầm trống nhỏ và nhảy múa. Nàng là con một của người, ngoài nàng chẳng có con trai hoặc con gái nào khác hơn.
35Ke Jephthah el liyal el arulana asor ac seya nuknuk lal, ac fahk, “We, acn nutik! Sripom pa oru ngan pula keok upa nu in ngunik inge! Foroti na pwaye insiuk keim, mweyen nga tuh orala wulela na ku se nu sin LEUM GOD ac nga tia ku in kunausla!”
35Giép-thê vừa thấy nàng, liền xé áo mình mà rằng: ù con, than ôi! con gây cho cha tức tối quá thay! Con thuộc vào số kẻ làm rối cha! Vì cha có mở miệng khấn nguyện cùng Đức Giê-hô-va, không thế nuốt lời.
36Ac tulik mutan sac fahk nu sel, “Kom fin orala tari sie wulela nu sin LEUM GOD , oru nu sik ma kom wulela kac an, mweyen LEUM GOD El tuh kasrekom in foloksak nu sin mwet lokoalok lom, mwet Ammon uh.
36Nàng thưa rằng: Cha ôi, nếu cha có mở miệng khấn nguyện cùng Đức Giê-hô-va, xin hãy làm cho con y như lời ra khỏi miệng cha, vì bây giờ Đức Giê-hô-va đã báo thù kẻ cừu địch cha rồi, tức là dân Am-môn.
37Tusruktu, oasr sie ma nga enenu sum: filiyula nga in wi kawuk luk som mutwata fineol uh malem luo, in asorkin lah nga ac misa tia payuk.”
37Đoạn, nàng lại nói cùng cha mình rằng: Xin cha hãy nhậm cho con lời nầy: Để cho con thong thả trong hai tháng, con sẽ đi ở trên núi đặng cùng chị em bạn con khóc về sự đồng trinh của con.
38Na Jephthah el fahk elan som ke lusen malem luo. Na acn sac wi mutan kawuk lal elos som nu fineol uh, ac tung mweyen el ac misa ac tia payuk ku isus tulik.
38Giép-thê đáp rằng: Con cứ đi. Rồi người để nàng đi hai tháng. Vậy, nàng đi cùng chị em bạn mình, khóc sự đồng trinh mình tại trên núi.
39Tukun malem luo el foloko nu yurin papa tumal. Jephthah el oru nu sel oana ma el tuh wulela nu sin LEUM GOD , na mutan sac el misa, tiana payuk. Pa inge mutaweyen facsin se inge,
39Cuối hai tháng, nàng trở về cha mình, và người làm cho nàng tùy theo lời khấn nguyện mình đã hứa. Nàng chẳng có biết người nam. Tại cớ đó trong Y-sơ-ra-ên có thường lệ nầy:
40ma mutan Israel uh ac som liki lohm selos ke lusen len akosr pacl se ke yac nukewa, in asor ac oru mwe esmakin lalos ke acn natul Jephthah, mwet Gilead.
40Mỗi năm, các con gái Y-sơ-ra-ên đi than khóc con gái của Giép-thê, người Ga-la-át, trong bốn ngày.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.