Sie Chronicle
Chapter 29
Bible Mutal (Kosraean)
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers

Sie Chronicle 29

Bible Mutal (Kosraean)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Tokosra David el fahk nu sin u lulap se ma tukeni, “Solomon nutik pa God El sulela, tusruktu el srakna fusr ac supah. Orekma su kut akola in oru inge sie orekma arulana yohk, ke sripen lohm se inge tia ma sin mwet, a tempul lun LEUM GOD .
1Đa-vít nói với cả hội chúng rằng: Sa-lô-môn, con trai ta, chỉ một mình con đó mà Đức Chúa Trời đã chọn, hãy còn trẻ tuổi non-nớt, và công việc lại lớn lao; vì cái đền đó chẳng phải cho loài người đâu, bèn là cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời.
2Nga sang kuiyuk nufon in akoo kufwa nu ke tempul se inge: gold, silver, bronze, osra, sak, kain in eot saok pukanten, eot in yun, ac eot marble mwe musa.
2Ta đã hết sức sắm cho đền của Đức Chúa Trời ta, nào vàng dùng về đồ làm bằng vàng, nào bạc dùng về đồ làm bằng bạc, nào đồng dùng về đồ làm bằng đồng, nào sắt dùng về đồ làm bằng sắt, nào gỗ dùng về đồ làm bằng gỗ, lại sắm những ngọc bích, ngọc để khảm, ngọc chiếu sáng, ngọc đủ các màu, và các thứ đá quí, cùng đá cẩm thạch trắng rất nhiều.
3Sayen ma inge nukewa ma nga srukak in kasru, nga sang pac gold ac silver luk sifacna, ke sripen lungse lulap luk nu ke Tempul lun God.
3Lại, vì lòng ta yêu mến đền của Đức Chúa Trời, nên ngoại trừ số ta đã sắm cho đền thánh, ta cũng dâng cho đền của Đức Chúa Trời ta các đồ bằng vàng và bằng bạc thuộc riêng về ta,
4Nga srukak siofok singoul limekosr tuhn in gold ma wo emeet, oayapa luofoko onngoul limekosr tuhn in silver nasnas, ma in sang nawu sinka ke Tempul uh,
4tức là ba ngàn ta lâng vàng Ô-phia, và bảy ngàn ta lâng bạc thét, đặng dùng bọc các vách đền;
5ac ma nukewa ma mwet sroasr elos ac fah orala. Inge, su ac wi pac engan in sang mwe lung na yohk nu sin LEUM GOD ?”
5vàng dùng về những vật bằng vàng, bạc dùng về những vật bằng bạc, và dùng về các việc làm bởi tay người thợ. Vậy ngày nay, ai là người vui lòng dâng mình cho Đức Giê-hô-va?
6Na mwet kol ke kais sie sou lulap ac mwet kol lun kais sie sruf, captain lun un mwet mweun, ac mwet pwapa fulat lun tokosra elos insewowo in sang
6Bấy giờ, các trưởng tộc, các trưởng của các chi phái Y-sơ-ra-ên, các quan tướng cai ngàn người và trăm người, các kẻ coi sóc công việc của vua, bèn vui lòng,
7ma inge nu ke orekma ke Tempul uh: tuhn siofok eungoul ke gold, tuhn tolfoko oalngoul ke silver, tuhn onfoko itngoul limekosr ke bronze, ac tuhn tolu tausin itfoko lumngaul ke osra.
7dâng về công việc đền Đức Chúa Trời, năm ngàn ta lâng vàng, mười ngàn đa-riếc, mười ngàn ta lâng bạc, mười tám ngàn ta lâng đồng, và một trăm ngàn ta lâng sắt.
8Elos su oasr eot saok yorolos elos sang nu ke nien filma ke Tempul, su ma inge karinginyuk sel Jehiel, sie mwet Levi in sou lal Gershon.
8Phàm ai có đá quí, thì giao cho Giê-hi-ên về dòng Ghẹt-sôn, để dâng vào kho của Đức Giê-hô-va.
9Mwet uh insewowo in sang nu sin LEUM GOD , ac elos arulana engan lah pus ma orekeni. Tokosra David el oayapa arulana engan.
9Dân sự lấy làm vui mừng về điều mình trọn lòng vui ý dâng cho Đức Giê-hô-va; và vua Đa-vít cũng lấy làm vui mừng lắm.
10Ingo ye mutun walil sac Tokosra David el kaksakin LEUM GOD ac fahk, “O LEUM GOD lal Jacob, papa tumasr, lela tuh Inem in kaksakinyuk nwe tok ma pahtpat.
10Tại trước mặt cả hội chúng, Đa-vít chúc tạ Đức Giê-hô-va mà rằng: Hỡi Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, tổ phụ chúng tôi ôi! đáng chúc tạ Ngài cho đến đời đời vô cùng!
11Kom fulat ac ku, wolana ac pwengpeng, ac mangol in ma nukewa. Ma lom ma nukewa in kusrao ac fin faclu. Kom pa tokosra, ac kom leum fin ma nukewa.
11Hỡi Đức Giê-hô-va sự cao cả, quyền năng, vinh quang, toàn thắng, và oai nghi đáng qui về Ngài; vì muôn vật trên các từng trời và dưới đất đều thuộc về Ngài. Đức Giê-hô-va ôi! nước thuộc về Ngài; Ngài được tôn cao làm Chúa tể của muôn vật.
12Mwe kasrup nukewa ma tuku sum me. Kom nununku ma nukewa ke wal ac ku lom, ac kom ku in oru tuh kutena mwet in pwengpeng ac ku.
12Hoặc sự giàu có, hoặc sự vinh quang, đều do Chúa mà đến, và Chúa quản trị trên muôn vật; quyền năng và thế lực ở nơi tay Chúa; tay Chúa khiến cho được tôn trọng và ban sức mạnh cho mọi người.
13Inge, God lasr, kut sot kulo nu sum, ac kut kaksakin Ine wolana lom.
13Bây giờ, Đức Chúa Trời chúng tôi ôi! chúng tôi cảm tạ Chúa và ngợi khen danh vinh hiển của Ngài.
14“Tusruktu, nga ac mwet luk, koflana asot kutena ma nu sum, mweyen ma nukewa ma kom ase nu sesr ke lung, ac kut folokin nu sum ma su nuna ma lom.
14Nhưng tôi là ai, và dân sự tôi là gì, mà chúng tôi có sức dâng cách vui lòng như vậy? Vì mọi vật đều do nơi Chúa mà đến; và những vật chúng tôi đã dâng cho Chúa chẳng qua là đã thuộc về Chúa.
15Kom etu, O LEUM GOD , lah kut moul oana mwet takusrkusr ac mwetsac, oapana moul lun mwet matu lasr somla. Len lasr oana sie lul su ac sa na wanginla, ac kut koflana kaingkunla misa.
15Vì chúng tôi tại trước mặt Chúa vốn là kẻ lạ, và kẻ ở đậu như các tổ phụ chúng tôi; các ngày chúng tôi tại trên đất, khác nào cái bóng, không mong ở lâu được.
16O LEUM GOD lasr, kut orani mwe kasrup inge nukewa tuh in sang musaeak sie tempul in akfulatye Ine mutal lom, tusruktu ma inge nukewa nuna ma lom ac tuku sum me.
16Hỡi Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi ôi! các vật nầy mà chúng tôi đã sắm sửa để cất đền cho danh thánh của Chúa, đều do nơi tay Chúa mà đến, và thảy đều thuộc về Chúa.
17Nga etu tuh kom srike insien kais sie mwet, ac kom insewowo sin mwet suwoswos. Nga engan in asot ma inge nukewa nu sum ke inse suwohs ac pwaye, ac nga liye lupan engan lun mwet lom su tukeni inge ke elos asot mwe lung lalos nu sum.
17Oâi Đức Chúa Trời tôi! tôi biết rằng Chúa dò xét lòng người ta, và Chúa vui vẻ về sự ngay thẳng. Về phần tôi, tôi cứ theo sự ngay thẳng của lòng tôi mà vui lòng dâng các vật nầy; và bây giờ tôi lấy làm vui mừng mà thấy dân sự Chúa ở đây cũng có dâng cho Chúa cách vui lòng.
18O LEUM GOD lun papa matu tumasr Abraham, Isaac, ac Jacob, oru tuh ouiya se inge ac nunak wo inge ke insien mwet lom in oanna nwe tok, ac kololos tuh elos in pwayena ac oaru nu sum.
18Hỡi Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Aùp-ra-ham, của Y-sác, và của Y-sơ-ra-ên, tổ phụ của chúng tôi ôi! xin hãy cho dân sự Chúa giữ luôn luôn một tâm ý ấy trong lòng, và làm cho lòng chúng chiều theo về Chúa.
19Asang nu sel Solomon, wen nutik, tuh elan akos ma sap lom nukewa ke insial nufon, ac oayapa tuh elan musai Tempul se su nga akoo inge.”
19Xin Chúa hãy ban cho Sa-lô-môn, con trai tôi, một lòng trọn vẹn, để gìn giữ các điều răn, chứng cớ, và luật lệ của Chúa, cùng làm cho các công việc nầy, xây cất cái đền mà tôi đã sắm sửa thờ lạy cho.
20Na David el sapkin nu sin mwet uh, “Kowos in kaksakin LEUM GOD lowos!” Ac u sac nufon kaksakin LEUM GOD , God lun mwet matu lalos, ac elos pasrlana nwe ten in akfulatye LEUM GOD oayapa tokosra lalos.
20Đa-vít nói với cả hội chúng rằng: Hãy chúc tạ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi. Cả hội chúng bèn chiến trận Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ mình, cúi đầu xuống mà thờ lạy Đức Giê-hô-va, và lạy vua.
21In len tok ah elos uniya kosro ac kisakin nu sin LEUM GOD , na elos sang nu sin mwet uh elos in mongo kac. Sayen ma inge elos kisakin sie tausin cow mukul, sie tausin sheep mukul, ac sie tausin sheep fusr su fonna ac firiryak fin loang uh. Elos oayapa use wain tuh in mwe sang lalos.
21Qua ngày sau, chúng dâng những tế lễ cho Đức Giê-hô-va, và dâng những của lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va: một ngàn con bò đực, một ngàn con chiên đực, một ngàn con chiên con, cùng các lễ quán cặp theo, và nhiều của tế lễ khác vì cả dân Y-sơ-ra-ên;
22Ouinge in len sac elos arulana engan ke elos mongo ac nim ye mutun LEUM GOD . Elos fahkak pacl se akluo lah Solomon el tokosra lalos. Ke Inen LEUM GOD elos mosrwella tuh elan leum lalos. Elos oayapa mosrwella Zadok tuh elan mwet tol.
22trong ngày ấy, chúng ăn uống rất vui mừng tại trước mặt Đức Giê-hô-va; chúng lần thứ nhì tôn Sa-lô-môn, con trai Đa-vít, làm vua, và nhân Đức Giê-hô-va xức dầu cho người làm vua chúa, và lập Xa-đốc làm thầy tế lễ.
23Ke ma inge Solomon el eis acn sel David, papa tumal, fin tron su LEUM GOD El tuh oakiya. El sie togusra na wowo, ac mwet Israel nukewa elos aksol.
23Bấy giờ, Sa-lô-môn ngồi lên trên ngôi của Đức Giê-hô-va, làm vua thế cho Đa-vít, cha người, và người được hưng thạnh; cả Y-sơ-ra-ên đều vâng theo mạng người.
24Mwet pwapu ac mwet mweun nukewa, oayapa wen nukewa natul David elos wulela mu elos ac insese nu sel Tokosra Solomon.
24Các quan trưởng, và người mạnh dạn, luôn với các con trai của vua Đa-vít, đều phục tùng vua Sa-lô-môn.
25LEUM GOD El oru tuh mutunfacl sac nufon in arulana akfulatyal Solomon, ac El oru tuh elan pwengpeng yohk liki kutena tokosra lun Israel.
25Đức Giê-hô-va khiến cho Sa-lô-môn được rất cao trọng tại trước mặt cả Y-sơ-ra-ên, và ban cho người được oai nghiêm, đến đỗi trong Y-sơ-ra-ên chẳng có một vua nào trước người được như vậy.
26David, wen natul Jesse, el leum fin Israel nufon
26Đa-vít, con trai Y-sai, cai trị trên cả Y-sơ-ra-ên.
27ke lusen yac angngaul. El leum in acn Hebron ke yac itkosr, ac in acn Jerusalem ke yac tolngoul tolu.
27Người cai trị trên Y-sơ-ra-ên bốn mươi năm: tại Hếp-rôn, người cai trị bảy năm, và tại Giê-ru-sa-lem, người cai trị ba mươi ba năm.
28El arulana matu ke el misa, ac el kasrup ac akfulatyeyuk sin mwet uh. Solomon, wen natul, el aolul in tokosra.
28Người băng hà tuổi cao, thỏa nguyện về đời mình, về sự giàu có, và về vinh hiển; Sa-lô-môn, con trai người, cai trị thế cho người.
29Sramsram matu kacl Tokosra David, ke mutawauk nwe ke safla, simla oasr in ma simusla lun mwet palu tolu: Samuel, Nathan, ac Gad.
29Các công việc của vua Đa-vít, từ đầu đến cuối, đều chép trong sách của Sa-mu-ên, đấng tiên kiến, trong sách của Na-than, đấng tiên tri, và trong sách của Gát, đấng tiên kiến;
30Ma simusla inge fahkak ouiyen kolyuk lal, ac lupan ku lal, ac ma nukewa ma sikyak nu sel ac nu sin Israel, oayapa nu sin tokosrai ma oan raunelosla.
30cuộc trị vì người, sự mạnh dạn người, các việc xảy ra cho người, cho dân Y-sơ-ra-ên, và cho các nước khác, đều đã chép trong các sách ấy.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.