Dân 32
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Bible Mutal (Kosraean)
1Vả, con cháu Ru-bên cùng con cháu Gát có bầy súc vật rất nhiều; thấy xứ Gia-ê-xe và xứ Ga-la-át là đất tiện hiệp nuôi bầy súc vật:
1Arulana pus cow nutin sruf lal Reuben ac Gad. Na ke elos liye lah wo acn Jazer ac Gilead nu ke tohf cow
2bèn đến thưa cùng Môi-se, Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, và các hội trưởng mà rằng:
2elos utyak nu yorol Moses, Eleazar, ac mwet kol saya lun mwet Israel ac fahk,
3A-ta-rốt, Đi-bôn, Gia-ê-xe, Nim-ra, Hết-bôn, Ê-lê-a-lê, Sê-bam, Nê-bô và Bê-ôn,
3“Acn Ataroth, Dibon, Jazer, Nimrah, Heshbon, Elealeh, Sibmah, Nebo, ac Beon
4xứ mà Đức Giê-hô-va đã đánh bại trước mặt hội chúng Y-sơ-ra-ên, là một xứ tiện hiệp nuôi bầy súc vật, và các tôi tớ ông có bầy súc vật.
4LEUM GOD El tuh kasrekut eisla. Acn inge wona nu ke tohf kosro, ac arulana pus kosro natusr uh.
5Lại tiếp rằng: Nếu chúng tôi được ơn trước mặt ông, chớ chi ban xứ nầy cho kẻ tôi tớ ông làm sản nghiệp, xin đừng biểu chúng tôi đi ngang qua sông Giô-đanh.
5Nunak munas ase acn inge in ma lasr, ac tia sap kut in alukela Infacl Jordan in muta layen roto.”
6Nhưng Môi-se đáp cùng con cháu Gát và con cháu Ru-bên rằng: Anh em các ngươi há sẽ đi trận, còn các ngươi ở lại đây sao?
6Tusruktu Moses el topuk ac fahk, “Ya ma liwos ac som mweun, a kowos ac mutana inge?
7Sao các ngươi xui dân Y-sơ-ra-ên trở lòng, không khứng đi qua xứ mà Đức Giê-hô-va đã cho?
7Efu kowos ku srike in akmunasye nunkun mwet Israel tuh elos in tia lungse fahsr aliki Infacl Jordan nu in facl se su LEUM GOD El sang nu selos?
8Aáy, tổ phụ các ngươi cũng làm như vậy khi ở từ Ca-đe-Ba-nê-a, ta sai họ đi do thám xứ.
8Pa ingan ma papa tomowos ah tuh oru ke nga supwalosla liki Kadesh Barnea in kalngeyuk nu in acn sac.
9Vì tổ phụ các ngươi lên đến đèo Eách-côn, thấy xứ, rồi xui dân Y-sơ-ra-ên trở lòng, không khứng vào xứ mà Đức Giê-hô-va đã ban cho.
9Elos som nwe sun Infahlfal Eshcol ac liye facl sac, tusruktu ke elos foloko, elos akmunasye mwet uh in tia utyak nu in facl se su LEUM GOD El sang nu selos.
10Trong ngày đó, cơn thạnh nộ của Đức Giê-hô-va phừng lên và Ngài thề rằng:
10LEUM GOD El tuh kasrkusrakak ke len sac, ac orala wulela se inge:
11Những người đi lên khỏi xứ Ê-díp-tô, từ hai mươi tuổi sắp lên, sẽ chẳng hề thấy xứ mà ta đã thề ban cho Aùp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp, vì các người đó không theo ta cách trung thành,
11‘Nga fulahk lah, mweyen elos tia inse pwayena nu sik, wangin sie sin mwet su matwa yac longoulyak su illa liki acn Egypt fah utyak nu in facl se su nga wuleang kac nu sel Abraham, Isaac ac Jacob.’
12trừ ra Ca-lép, con trai của Giê-phu-nê, là người Kê-nít, và Giô-suê, con trai của Nun: hai người đó đã theo Đức Giê-hô-va cách trung thành.
12Kas inge ma nu sin mwet nukewa, sayal Caleb wen natul Jephunneh mwet Ken, ac Joshua wen natul Nun. Eltal mukena inse pwayena nu sin LEUM GOD .
13Aáy vậy, cơn thạnh nộ của Đức Giê-hô-va nổi phừng phừng cùng dân Y-sơ-ra-ên, Ngài làm cho dân đó đi lưu lạc trong đồng vắng bốn mươi năm, cho đến chừng nào cả dòng dõi đã làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va bị tiêu diệt hết.
13LEUM GOD El kasrkusrakak sin mwet uh ac oru elos in forfor yen mwesis ke yac angngaul, nwe ke na fwil nufon se ma oru ma koluk ye mutal ah misa.
14Nầy các ngươi dấy lên thế cho tổ phụ mình, là dòng dõi tội nhân, đặng gia thêm sức thạnh nộ của Đức Giê-hô-va cùng Y-sơ-ra-ên nữa.
14Ac inge kowos sie fwil sasu su aolla papa matu tomowos in oru ma koluk, ac akyokye kasrkusrak lun LEUM GOD nu fin Israel.
15Vì nhược bằng các ngươi đi tẻ Ngài ra, thì Ngài sẽ cứ để dân nầy ở trong đồng vắng, và các ngươi làm cho dân chết sạch hết vậy.
15Mwet Reuben ac Gad, kowos fin forla lukel inge, El ac sifilpa fahsr liki mwet inge nukewa yen mwesis uh, na mwatan ma koluk ma ac sikyak inge ac fah oan fowos.”
16Nhưng các người đó đến gần Môi-se mà rằng: Tại đây, chúng tôi sẽ dựng chuồng cho súc vật và thành cho con trẻ chúng tôi;
16Na elos kalukyang nu yorol Moses ac fahk, “Kut siyuk tuh kut in etoak kutu kalkal eot nu ke sheep natusr uh, ac musai kutu siti ke pot ku nu sin sou lasr uh.
17rồi chúng tôi cầm binh khí lập tức đặng đi trước dân Y-sơ-ra-ên cho đến chừng nào đưa dân ấy vào cõi đã phân định cho họ. Còn con trẻ chúng tôi phải ở trong thành kiên cố, vì cớ dân bổn xứ.
17Na kut ac fah akola in wi mwet Israel wiasr som nu ke mweun, ac kut fah fahsr meet in kololos nwe ke kut oakelosi fin acn su ac fah ma lalos. In pacl ingan, sou lasr uh fah muta inge in siti kalkalyak ke pot ku, ac tia sensen ke mwet in facl se inge.
18Chúng tôi không trở về nhà chúng tôi trước khi mọi người trong dân Y-sơ-ra-ên chưa lãnh được sản nghiệp mình.
18Kut fah tia foloko nu yen sesr nwe ke mwet Israel nukewa elos oakwuki in acn ma itukyang nu selos.
19Chúng tôi sẽ chẳng được chi với dân Y-sơ-ra-ên về bên kia sông Giô-đanh hay là xa hơn, vì chúng tôi được sản nghiệp mình ở bên nầy sông Giô-đanh, về phía đông.
19Kut fah tia eis kutena acn sesr layen roto in Infacl Jordan, mweyen kut eis tari ip lasr inge layen kutulap in Infacl Jordan.”
20Môi-se đáp cùng các người rằng: Nếu các ngươi làm điều đó, nếu cầm binh khí đặng đi chiến trận trước mặt Đức Giê-hô-va,
20Moses el topuk, “Fin pwayena ma kowos fahk, na inge ye mutun LEUM GOD , kowos akola in som nu ke mweun.
21nếu mọi người cầm binh khí đi ngang qua sống Giô-đanh trước mặt Đức Giê-hô-va, cho đến khi nào đuổi quân-nghịch chạy khỏi trước mặt Ngài,
21Mwet mweun lowos nukewa in fahsr sasla Infacl Jordan, na ye koko lun LEUM GOD elos in mweun lain mwet lokoalok lasr nwe ke LEUM GOD El kutangulosla
22và nếu chỉ trở về sau khi xứ đã phục trước mặt Đức Giê-hô-va, thì đối cùng Đức Giê-hô-va và Y-sơ-ra-ên, các ngươi sẽ không bị trách móc chi, và đất nầy sẽ làm sản nghiệp cho các ngươi trước mặt Đức Giê-hô-va.
22ac eis acn sac. Toko kowos ac ku in foloko, mweyen kowos akfalyela tari ma kunowos nu sin LEUM GOD ac nu sin mwet Israel wiowos. Na LEUM GOD El fah akkalemye lah acn se inge kutulap in Infacl Jordan ma lowos.
23Còn nếu không làm như vậy, nầy các ngươi sẽ phạm tội cùng Đức Giê-hô-va, và phải biết rằng tội chắc sẽ đổ lại trên các ngươi.
23Tusruktu kowos fin tia oru oana ma kowos wulela inge, nga akkalemye nu suwos lah kowos orekma koluk lain LEUM GOD . Kowos in arulana etu lah ac fah kaiyuk kowos ke ma koluk lowos.
24Vậy, hãy cất thành cho con trẻ mình, cùng dựng chuồng cho bầy súc vật và làm điều các ngươi đã nói.
24Ke ma inge, musai siti nu sin sou lowos ac kalkal nu ke sheep ac nani nutuwos an, tusruktu kowos in oru na ma kowos wulela kac!”
25Con cháu Gát và con cháu Ru-bên bèn nói cùng Môi-se rằng: Các tôi tớ ông sẽ làm điều mà chúa tôi phán dặn.
25Na mukul ke sruf lal Gad ac Reuben elos fahk, “Moses, kut ac oru oana kom sapkin.
26Con trẻ, vợ, bầy chiên, và hết thảy súc vật chúng tôi sẽ ở đây trong những thành xứ Ga-la-át;
26Mutan kiasr, tulik natusr, cow natusr, ac sheep natusr fah mutana inge ke siti in acn Gilead.
27còn hết thảy tôi tớ ông sẽ cầm binh khí, đi ngang qua, sẵn ngừa mà chiến trận trước mặt Đức Giê-hô-va, như chúa tôi đã phán dặn.
27A kut nukewa ac akola in som nu ke mweun ye kolyuk lun LEUM GOD . Kut ac fahla alukela Infacl Jordan ac mweun, oana ke kom fahk.”
28Vậy, Môi-se về phần các người đó truyền lịnh cho Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, cho Giô-suê, con trai Nun, và cho các quan trưởng của những chi phái dân Y-sơ-ra-ên,
28Ouinge Moses el sang ma sap inge nu sel Eleazar, Joshua, ac mwet kol saya lun mwet Israel:
29mà rằng: Nếu con cháu Gát và con cháu Ru-bên cầm binh khí đi ngang qua sông Giô-đanh với các ngươi đặng chiến trận trước mặt Đức Giê-hô-va, và nếu xứ phục các ngươi, thì các ngươi phải ban cho họ xứ Ga-la-át làm sản nghiệp.
29“Mukul ke sruf lun Gad ac Reuben fin fahsr aliki Infacl Jordan ac akola nu ke mweun ke sap lun LEUM GOD , ac kowos fin eisla acn sac ke sripen kasru lalos, na kowos fah sang nu selos acn Gilead tuh in ma lalos.
30Nhưng nếu họ không cầm binh khí mà đi ngang qua với các ngươi, thì họ sẽ có sản nghiệp giữa các ngươi trong xứ Ca-na-an.
30Tusruktu elos fin tia fahla alukela Infacl Jordan ac wi kowos mweun, elos ac fah eis na acn selos inmasrlowos fin acn Canaan.”
31Con cháu Gát và con cháu Ru-bên thưa rằng: Chúng tôi sẽ làm điều chi mà Đức Giê-hô-va đã phán cùng kẻ tôi tớ ông.
31Mukul ke sruf lun Gad ac Reuben elos topuk, “Kut ac oru oana ma LEUM GOD El sapkin.
32Chúng tôi sẽ cầm binh khí đi qua trong xứ Ca-na-an trước mặt Đức Giê-hô-va; nhưng chúng tôi sẽ lãnh sản nghiệp mình về phía bên nầy sông Giô-đanh.
32Ye kolyuk lal, kut fah fahla aliki nu in facl Canaan ac mweun, tuh acn inge kutulap in Infacl Jordan in ma lasr.”
33Aáy vậy, Môi-se ban cho con cháu Gát, con cháu Ru-bên, và phân nữa chi phái Ma-na-se, là con trai của Giô-sép, nước của Si-hôn, vua dân A-mô-rít, và nước của Oùc, vua xứ Ba-san, tức là ban xứ với những thành nó và các thành địa-hạt ở chung quanh.
33Ouinge Moses el oakiya acn nukewa ke facl sel Tokosra Sihon lun acn Amor, ac facl sel Tokosra Og lun acn Bashan, weang siti srisrik ac acn nukewa ma raunela, tuh in ma lun sruf lun Gad ac Reuben ac tafu sruf lal Manasseh.
34Con cháu Gát bèn xây cất Đi-bôn, A-ta-rốt, A-rô-e,
34Sruf lun Gad sifil musaela pot ku in siti Dibon, Ataroth, Aroer,
35Aït-rốt-Sô-phan, Gia-ê-xe, Giô-bê-ha,
35Atroth, Shophan, Jazer, Jogbehah,
36Bết-Nim-ra, và Bết-Ha-ran, là những thành kiên cố. Cũng dựng chuồng cho bầy súc vật nữa.
36Beth Nimrah, ac Beth Haran.
37Con cháu Ru-bên xây cất Hết-bôn, Ê-lê-a-lê, Ki-ri-a-ta-im,
37Sruf lun Reuben sifil musaela Heshbon, Elealeh, Kiriathaim,
38Nê-bô, Ba-anh-Mê-ôn, tên các thành nầy bị đổi, và Síp-ma; rồi đặt tên cho các thành nào mình xây cất.
38Nebo, Baal Meon (ayaolla inen acn se inge), ac Sibmah. Elos sang ine sasu nu ke siti ma elos sifil musaela.
39Con cháu Ma-ki, là con trai Ma-na-se, đi vào chiếm xứ Ga-la-át và đuổi người A-mô-rít ở trong đó ra.
39Sou lulap lal Machir, wen natul Manasseh, mweun ac eisla acn Gilead, ac elos lusla mwet Amor su muta we.
40Vậy, Môi-se ban xứ Ga-la-át cho Ma-ki, là con trai Ma-na-se, và người ở tại đó.
40Ke ma inge Moses el sang acn Gilead nu sin sou lal Machir, ac elos muta we.
41Giai-rơ, là con trai Ma-na-se, đi chiếm các thôn dân A-mô-rít, đặt tên là thôn Giai-rơ.
41Jair, ke sruf lal Manasseh, el mweun ac sruokya kutu siti srisrik we, ac sang ine sasu se inge nu kac: “Siti Srisrik lun Jair.”
42Nô-bách đi lấy thành Kê-nát với các thành địa hạt, đặt tên là Nô-bách theo chính danh mình.
42Nobah el mweun ac sruokya acn Kenath ac siti srisrik raunela, ac sang inel sifacna nu ke acn inge: Nobah.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.