Mác 12
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Chamorro: Gospels, Acts and Psalms
1Đức Chúa Jêsus khởi phán thí dụ cùng họ rằng: Một người kia trồng vườn nho, rào chung quanh, ở trong đào một cái hầm ép rượu, và dựng một cái tháp; đoạn cho mấy người làm nghề trồng nho thuê, mà lìa bổn xứ.
1YA sigue di jacuentuse sija acomparasion sija. Un taotao mananom gui fangualuan ubas, ya jacolat nu trongcon tituca, ya manguadog un joyo para un lagat ya jafatinas un tore, ya jaatquila y manfafachocho, ya mapos güe malag otro tano.
2Tới mùa, chủ vườn sai một đầy tớ đến cùng bọn trồng nho, đặng thâu lấy phần hoa lợi vườn nho nơi tay họ.
2Ya anae esta tiempo, jatago uno gui tentagoña para ayo y manmachochocho, para ujaresibe guinen manmachochocho y tinegcha y fangualuan ubas.
3Nhưng họ bắt đầy tớ mà đánh rồi đuổi về tay không.
3Ya macone y tentago, ya masaulag, ya manajanao taesinajguan.
4Người lại sai một đầy tớ khác đến; nhưng họ đánh đầu nó và chưởi rủa nữa.
4Ya jatago talo y otro tentagoña; ya mapoca y iluña, ya manataelaye güe gosdangculo.
5Người còn sai đứa khác đến, thì họ giết đi; lại sai nhiều đứa khác nữa, đứa thì bị họ đánh, đứa thì bị họ giết.
5Ya jatalo tumago y otro, ya mapuno; yan otro megae ya palo manmasaulag yan palo manmapuno.
6Chủ vườn còn đứa con trai một rất yêu dấu, bèn sai đi lần cuối cùng mà nói rằng: Chúng nó sẽ kính vì con ta!
6Ya guaja unoja lajiña na sumenyaña; ya güiya uttimo jatago, ilegña: Ufangaerespeto ni y lajijo.
7Nhưng bọn trồng nho đó bàn với nhau rằng: Thằng nầy là con kế tự; hè, ta hãy giết nó, thì phần gia tài nó sẽ về chúng ta.
7Ya ayo sija y manmachochocho, ilegñija gui sumanjalomñija. Estagüe y eredero; nije tapuno, ya y fangualuan uiyota.
8Họ bắt con trai ấy giết đi, ném ra ngoài vườn nho.
8Ya macone güe, ya mapuno, ya mayute juyong gui fangualuan.
9Vậy thì chủ vườn nho sẽ làm thế nào? Người sẽ đến giết bọn trồng nho đó, rồi lấy vườn nho lại mà cho người khác.
9Jafa pago ufatinas y magas y fangualuan? Ufato, ya uyulang todo y manmachochocho, ya ufannae otro ni y fangualuan.
10Các ngươi há chưa đọc lời Kinh Thánh nầy: Hòn đá bị thợ xây nhà bỏ ra, Đã trở nên đá góc nhà;
10Taya nae intaetae este na tinigue: Y acho, ni y jarechasa y manmanmatitinas ni y guima, esteja mapolo cuentan ulo gui esquina.
11Aáy là công việc của Chúa, Và là việc rất lạ trước mắt chúng ta, hay sao?
11Este finatinas y Señot, ya janafanmanman gui menan atadogta.
12Những người đó bèn tìm cách bắt Ngài, vì biết rõ rằng Ngài phán thí dụ ấy chỉ về mình; song sợ dân chúng, nên bỏ Ngài mà đi.
12Ya maaliligao para umagote lao manmaañao ni y linajyan taotao; sa matungo na jasasangan y acomparasion contra sija: ya madingo, ya manmapos gui jinanaoñija.
13Kế đó, họ sai mấy người thuộc về phe Pha-ri-si và đảng Hê-rốt đến, để bắt lỗi Ngài trong lời nói.
13Ya manmatago guato guiya güiya palo gui Fariseo sija yan taotao Herodes; para umaquegacha gui sinanganña.
14Vậy, mấy người ấy đến, thưa Ngài rằng: Lạy thầy, chúng tôi biết thầy là người thật, không lo sợ gì ai; vì thầy không xem bề ngoài người ta, nhưng dạy đạo Đức Chúa Trời theo mọi lẽ thật. Có nên nộp thuế cho Sê-sa hay không? Chúng tôi phải nộp hay là không nộp?
14Ya anae manmato, ilegñija nu güiya: Maestro, intingo na jago magajetjao; ya taya unadadaje ni un taotao; sa ti guaelaye nu jago y finaboresen taotao, lao mamananagüejao ni y magajet na chalan Yuus. Tunas na infanmanaejam tributo as Sesat, pat aje?
15Nhưng Ngài biết sự giả hình của họ thì phán rằng: Các ngươi thử ta làm chi? Hãy đem cho ta xem một đồng đơ-ni-ê.
15Innae, pat mungajam numae? Lao si Jesus jatungoja y quinadoñija, ya ilegña nu sija: Jafa muna na intietientayo? maela un denarion salape ya julie.
16Họ đem cho Ngài một đồng, Ngài bèn phán rằng: Hình và hiệu nầy của ai? Họ trả lời rằng: Của Sê-sa.
16Ya anae machulie guato, ilegña nu sija: Iyon jaye este na imagen yan tinigue? Ylegñija nu güiya: Iyon Sesat.
17Đức Chúa Jêsus phán rằng: Vật chi của Sê-sa hãy trả lại cho Sê-sa, còn vật chi của Đức Chúa Trời hãy trả lại cho Đức Chúa Trời. Họ đều lấy làm lạ về Ngài.
17Ayonae si Jesus ilegña nu sija: Nae si Sesat ni y iyon Sesat, ya si Yuus ni y iyon Yuus. Ya ninafangosmanman nu güiya.
18Các người Sa-đu-sê, là những kẻ vẫn nói rằng không có sự sống lại, đến gần mà hỏi Ngài rằng:
18Ya manmato guiya güiya y Saduseo sija ni y ilegñija, na taya quinajulo y mannatae; ya mafaesen güe, ilegñija:
19Thưa thầy, Môi-se đã ban cho chúng tôi luật nầy: Nếu một người kia có anh em qua đời, để vợ lại, không con, thì người kia phải lấy vợ góa đó đặng nối dòng dõi cho anh em mình.
19Maestro, jatuguiejam si Moises: Yanguin y chelun un taotao matae, ya y palaoan ni y asaguaña sumaga ya taya patgonña, ayo y laje ni y chelun y matae, uasagua talo y palaoan, ya ufamasemiya gui cheluña.
20Vả, có bảy anh em. Người thứ nhất cưới vợ, rồi chết, không có con.
20Ya guaja seite lalaje na mañelu: y finenana umasagua, ya matae ti mapolo semiya:
21Người thứ hai lấy vợ góa ấy, sau chết, cũng không có con; rồi đến người thứ ba cũng vậy.
21Inasagua talo y palaoan ni y mina dos, ya matae talo taya pineloña semiya: ya y mina tres taegüijeja talo.
22Trong bảy người, chẳng ai để con lại. Sau hết, người đàn bà cũng chết.
22Ya y siete, ti mapolo semiyañijo; despues di todos, matae y palaoan locue.
23Lúc sống lại, đàn bà đó là vợ ai trong bảy anh em? vì hết thảy đều đã lấy người làm vợ.
23Y quinajulo y manmatae, jaye guiya sija ugae asagua y palaoan? sa todo y siete manmasagua.
24Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Há chẳng phải các ngươi lầm, vì không biết Kinh Thánh, cũng không hiểu quyền phép Đức Chúa Trời sao?
24Si Jesus ilegña nu sija: Ada ti manlache jamyo, sa ti intingo y tinigue, ni y ninasiñan Yuus?
25Vì đến lúc người ta từ kẻ chết sống lại, thì chẳng cưới vợ, chẳng lấy chồng; nhưng các người sống lại đó ở như thiên sứ trên trời vậy.
25Sa y mangajulo guinen manmatae, ni ufanasagua, ni umanafanasagua; lao manparejoja yan y angjet sija gui langet.
26Còn về những người chết được sống lại, thì trong sách Môi-se có chép lời Đức Chúa Trời phán cùng người trong bụi gai rằng: Ta là Đức Chúa Trời của Aùp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y-sác, Đức Chúa Trời của Gia-cốp, các ngươi há chưa đọc đến sao?
26Ya y manmatae ni y ufannacajulo; ti untaetae gui leblon Moises, jaftaemano si Yuus gui jalomtano guiya trongcon jayo ni y ilegña as Moises: Guajo si Yuus Abraham, yan si Yuus Ysaac, yan si Yuus Jacob?
27Ngài chẳng phải là Đức Chúa Trời của kẻ chết, mà là của kẻ sống! Thật các ngươi lầm to.
27Ti güiya si Yuus y manmatae, na si Yuus y manlâlâlâ; enaomina ninafangoslache jamyo.
28Bấy giờ, có một thầy thông giáo nghe Chúa và người Sa-đu-sê biện luận với nhau, biết Đức Chúa Jêsus đã khéo đáp, bèn đến gần hỏi Ngài rằng: Trong các điều răn, điều nào là đầu hết?
28Ya uno gui escriba mato, ya jajungog na manafaesen entresija, ya jatungo na mauleg inepeña nu sija, finaesen güe: Jafa y finenana qui todo na tinago?
29Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Nầy là điều đầu nhất: Hỡi Y-sơ-ra-ên, hãy nghe, Chúa, Đức Chúa Trời chúng ta, là Chúa có một.
29Si Jesus manope: Este y finenana na tinago: Jingog O Israel: Y Señot Yuusta, unoja na Señot:
30Ngươi phải hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức mà kính mến Chúa là Đức Chúa Trời ngươi.
30Ya guaeya jamyo y Señot, Yuusmiyo, contodo y corasonmiyo, yan contodo y antenmiyo, yan contodo y jinasonmiyo, yan contodo y minetgotmiyo.
31Nầy là điều thứ hai: Ngươi phải yêu kẻ lân cận như mình. Chẳng có điều răn nào lớn hơn hai điều đó.
31Ya este y segundo: Guaeya y tiguangmo parejo yan jago. Taya otro tinago mas, mandangculo qui estesija.
32Thầy thông giáo trả lời rằng: Thưa thầy, thầy nói phải, hiệp lý lắm, thật Đức Chúa Trời là có một, ngoài Ngài chẳng có Chúa nào khác nữa;
32Ya y escriba ilegña nu güiya. Magajet Maestro, mauleg na unsangan na güiya unoja; ya taya otro na güiyaja.
33thật phải kính mến Chúa hết lòng, hết trí, hết sức và yêu kẻ lân cận như mình, ấy là hơn mọi của lễ thiêu cùng hết thảy các của lễ.
33Ya ugumaeya güe contodo y corason, yan contodo y tiningo, yan contodo y minetgot, yan ugumaeya y tiguangña parejo yan güiya, mas qui todo y inefrese, yan y ninae sija.
34Đức Chúa Jêsus thấy người trả lời như người khôn, thì phán rằng: Ngươi chẳng cách xa nước Đức Chúa Trời đâu. Rồi không ai dám hỏi Ngài nữa.
34Ya anae jalie si Jesus ni y minejnalom inepeña, ilegña nu güiya: Ti chagojao gui raenon Yuus. Ya taya ni un taotao fumaesen güe talo desde ayo.
35Đức Chúa Jêsus đang dạy dỗ trong đền thờ, bèn cất tiếng phán những lời nầy: Sao các thầy thông giáo nói Đấng Christ là con Đa-vít?
35Ya maninepe as Jesus gui anae mamananagüe gui templo, ilegña: Jafa na ilegñija y escriba sija, na si Cristo Lajin David?
36Chính Đa-vít đã cảm Đức Thánh Linh mà nói rằng: Chúa phán cùng Chúa tôi; Hãy ngồi bên hữu ta, Cho đến chừng nào ta để kẻ thù nghịch ngươi làm bệ dưới chân ngươi.
36Sa si David mismo ilegña gui Espiritu Santo: Y Señot ilegña ni y Señotto: Fatachong gui agapa na canaejo, asta qui jupolo y enemigumo sija gui papa y fañajangan adengmo.
37Vì chính Đa-vít xưng Ngài bằng Chúa, thì lẽ nào Ngài là con vua ấy? Đoàn dân đông vui lòng mà nghe Ngài.
37David jafanaan güe Señot; ya jaftaemano na y lajiña? Ya manmagof y dangculon linajyan taotao sija anae majungog.
38Trong lúc dạy dỗ, Ngài lại phán rằng: Hãy giữ mình về các thầy thông giáo, là kẻ ưa mặc áo dài đi chơi, thích người ta chào mình giữa chợ
38Ya ilegña gui finanagüeña: Adaje jamyo ni y escriba sija, sa yanñija manjanao yan y anaco magagoñija, yan yanñija manmasaluda gui metcado,
39muốn ngôi cao nhất trong các nhà hội cùng trong các đám tiệc,
39Yan y manmagas na tachong gui sinagoga, yan y ya jululo na tachong gui guipot;
40nuốt các nhà đàn bà góa, mà làm bộ đọc lời cầu nguyện dài. Họ sẽ bị phạt càng nặng hơn nữa.
40Ni y jatucho y guima y biuda sija, ya janafananaco tinaetaeñija ni y dinague: este sija ujaresibe dangculo na sentensia.
41Đức Chúa Jêsus ngồi đối ngang cái rương đựng tiền dâng, coi dân chúng bỏ tiền vào thể nào.
41Ya anae matachong si Jesus gui menan y cajon ni y para y ninae; megae na taotao manmato, ya manmanyute jalom salape gui cajon; ya y megae na manrico sija, megae yiniteñija jalom.
42Có lắm người giàu bỏ nhiều tiền; cũng có một mụ góa nghèo kia đến bỏ hai đồng tiền ăn một phần tư xu.
42Ya mato un pobble na buida; ya manyute jalom dos cobble na bale buente un centavos.
43Ngài bèn kêu môn đồ mà phán rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, mụ góa nghèo nầy đã bỏ tiền vào rương nhiều hơn hết thảy những người đã bỏ vào.
43Ya si Jesus jaagang y disipuluña, ya ilegña nu sija: Magajet jusangane jamyo: Este y pebble na biuda, mas megae yiniteña jalom qui ni todo ayo sija y guinen manmanyute jalom gui cajon.
44Vì mọi kẻ khác lấy của dư mình bỏ vào, còn mụ nầy nghèo cực lắm, đã bỏ hết của mình có, là hết của có để nuôi mình.
44Sa todo y manmanyute jalom, pot y minegaeñijaja; lao güiya pot y minalagoñaja na jayute jalom todo y güinajaña; asta y sustentoña todo.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.