Giê 4
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibal Olcim (Matupi Chin)
1Đức Giê-hô-va phán: Hỡi Y-sơ-ra-ên, nếu ngươi trở về cùng ta, nếu trở về cùng ta, và nếu ngươi bỏ những việc gớm ghiếc khỏi trước mắt ta, thì ngươi sẽ chẳng bị dời đi nữa.
1Israel aw na mael mak atah BOEIPA kah olphong om coeng, kamah taengla na mael mako. Namah dongkah sarhingkoi te ka mikhmuh lamkah na nong tak atah na rhaehba mahpawh.
2Ngươi sẽ lấy sự thật thà, ngay thẳng, công bình, mà thề rằng: Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống, các nước sẽ được phước bởi Ngài và vinh hiển trong Ngài.
2Hingnah BOEIPA taengah oltak neh, tiktamnah neh, duengnah neh toemngam saeh. Amah dongah namtom rhoek a yoethen uh vetih amah ming neh a thangthen uh ni.
3Vả, Đức Giê-hô-va phán cùng người Giu-đa và cùng Giê-ru-sa-lem như vầy: Hãy cày mở ruộng mới các ngươi, chớ gieo trong gai gốc.
3He he BOEIPA loh Judah hlang neh Jerusalem taengah a thui. Namamih kah khohai te yawt uh laeh, hling puem ah tawn boeh.
4Hỡi các ngươi, là người Giu-đa và dân cư Giê-ru-sa-lem, hãy tự cắt bì mình cho Đức Giê-hô-va, và cất dương bì khỏi lòng ngươi! Bằng chẳng vậy, cơn giận ta sẽ phừng lên như lửa, đốt cháy các ngươi, không ai giập tắt được, vì việc ác các ngươi đã làm.
4Judah hlang neh Jerusalem khosa rhoek aw BOEIPA taengah rhet uh lamtah na thinko hmuicue te hlap uh laeh. Ka kosi he hmai bangla puek vetih dom tarha ve. Na khoboe thaenah dongah aka thih om mahpawh.
5Hãy rao ra trong Giu-đa; hãy truyền trong Giê-ru-sa-lem rằng: Hãy thổi kèn trong đất. Hãy kêu lớn tiếng rằng: Khá nhóm nhau lại và đi vào các thành bền vững.
5Judah ah puen pah lamtah Jerusalem ah yaak sak uh. Kho tom ah tuki te ueng, ueng lamtah thui pah. A baetawt la khue lamtah, “Coi uh thae laeh, khopuei hmuencak te paan uh sih,” ti uh.
6Khá dựng cờ hướng về Si-ôn! Hãy trốn đi, đừng dừng lại! Vì ta khiến từ phương bắc đến một tai nạn, tức là một sự hư hại lớn.
6Zion benah rholik thoh laeh, bakuep uh laeh, uelh uh boeh. Kai loh tlangpuei lamkah yoethaenah neh pocinah tanglue te kang khuen.
7Sư tử ra từ rừng nó, kẻ hủy diệt các nước bắt đầu ra đi khỏi chỗ mình, đặng làm cho đất ngươi ra hoang vu; các thành ngươi trở nên gò đống, và không có người ở.
7Sathueng te a puep lamkah ha thoeng. Namtom rhoek aka phae khaw hlah uh coeng. Na khohmuen neh na khopuei rhoek te imsuep la khueh ham a hmuen lamkah coe coeng tih khosa om kolla a hnueih uh ni.
8Vậy nên, các ngươi hãy thắt bao gai, khóc và than thở, vì cơn giận phừng phừng của Đức Giê-hô-va chưa lìa khỏi chúng ta đâu.
8Te dongah tlamhni bai uh laeh, rhaengsae uh lamtah rhung uh laeh. BOEIPA kah thintoek thinsa tah mamih lamloh a mael moenih.
9Đức Giê-hô-va phán: Trong ngày đó, vua và các quan trưởng sửng sốt trong lòng; các thầy tế lễ bỡ ngỡ, các kẻ tiên tri lấy làm lạ.
9BOEIPA kah olphong te a khohnin ah om ni. Manghai kah lungbuei neh mangpa rhoek kah lungbuei khaw moelh ni. Khosoih rhoek te pong uh vetih tonghma rhoek khaw a ngaihmang uh ni.
10Bấy giờ tôi nói: Oâi! hỡi Chúa Giê-hô-va! Thật Ngài đã phỉnh dân nầy và Giê-ru-sa-lem lắm, mà nói rằng: Các ngươi sẽ được bình an! Những lưỡi gươm đã thấu đến sự sống.
10Te vaengah, “Ya-oe, ka Boeipa Yahovah aih, he kah pilnam neh Jerusalem taengah na rhaithi la rhep na rhaithi coeng. 'Nangmih taengah ngaimongnah om ni, ' na ti vaengah cunghang loh ka hinglu a ben,” ka ti nah.
11Trong thời đó, sẽ nói cùng dân nầy và Giê-ru-sa-lem rằng: Gió nóng đến từ các gò trọi nơi đồng vắng, thổi trên con gái dân ta, nhưng chẳng dùng để dê lúa được, và cũng chẳng làm cho sạch được.
11Te khohnin ah tah he pilnam taeng neh Jerusalem taengah thui pah. Caphoei cuk kah hli hueng loh khosoek kah ka pilnam nu longpuei a hooi uh te aka rhuek ham pawt tih aka hlaai ham moenih.
12Lại có gió lớn hơn nữa vì ta mà đến. Nay ta sẽ rao sự đoán xét nghịch cùng chúng nó.
12Te lakah aka tlung khohli te kai lamloh ha pawk coeng. Kai khaw amih taengah laitloeknah ka thui.
13Nầy, nó sẽ lên như một đám mây, xe cộ nó dường cơn gió lốc, ngựa nó lẹ như chim ưng. Khốn cho chúng ta, vì bị hủy diệt!
13A caeh khaw cingmai bangla, a leng khaw cangpalam bangla ke. Aunae Mamih aka rhoelrhak ham kah a marhang rhoek mahatha rhoek lakah tahoeng ke.
14Hỡi Giê-ru-sa-lem, hãy làm sạch hết điều ác trong lòng ngươi, hầu cho ngươi được cứu. Ngươi nuôi những ý tưởng gian ác trong lòng cho đến chừng nào?
14Jerusalem, na lungbuei boethae lakah te sil uh laeh. Te daengah ni n'khang pueng eh. Me hil nim na ko khuikah na boethae kopoek dongah na rhaehba ve.
15Vì có tiếng đến từ đất Đan, từ gò Eùp-ra-im rao truyền tai vạ.
15Ol ngawn tah Dan lamloh ha puen coeng tih omthae omlang khaw Ephraim tlang lamloh n'yaak coeng.
16Hãy báo cho các nước! Hãy rao cho Giê-ru-sa-lem rằng: Kẻ vây hãm từ phương xa mà đến, và kêu la nghịch cùng các thành Giu-đa.
16Namtom rhoek te thoelh sak uh. khohla bangsang kho lamkah aka pawk rhoek loh a dum uh te Jerusalem taengah yaak sak ne. A ol neh Judah khopuei rhoek a huttet uh.
17Chúng nó vây Giê-ru-sa-lem như kẻ giữ ruộng; vì thành ấy đã nổi loạn nghịch cùng ta, Đức Giê-hô-va phán vậy.
17Kai n'koek coeng dongah kaepvai lamloh khohmuen aka hung bangla a om thil uh. He tah BOEIPA kah olphong ni.
18Đó là những sự mà đường lối và việc làm của ngươi đã chuốc lấy cho ngươi; đó là sự gian ác ngươi! Thật, sự ấy là cay đắng, thấu đến trong lòng ngươi.
18Na khosing neh na khoboe loh namah soah han saii. Na boethae loh na lungbuei te hlut a toeh tangkik coeng.
19Oâi! tôi đau lòng, đau lòng! Cơn đau đớn quặn thắt lòng tôi; lòng đang bối rối trong tôi. Tôi không thể làm thinh! Hỡi linh hồn tôi, vì mầy nghe dọng kèn và tiếng giặc giã.
19Kai bung, kai ko aih, aka vawn bangla ka lungbuei hop ah ka lamtawn coeng. Ka lungbuei loh ka khuiah hue a sak. Tuki ol ah ka omlip pawh. Aw ka hinglu caemtloek kah tamlung te na yaak rhoe na yaak coeng.
20Hủy diệt càng thêm hủy diệt, báo tin chẳng dứt, cả đất bị phá tán; nhà tạm tôi thình lình bị hủy, màn cháng tôi bỗng chốc bị hư!
20Pocinah soah pocinah loh a khue tih khohmuen boeih te buengrhuet a rhoelrhak coeng. Ka dap neh ka himbaiyan khaw mikhaptok ni a rhoelrhak uh.
21Tôi sẽ thấy cờ và nghe tiếng kèn cho đến chừng nào?
21Me hil nim rholik ka hmuh vetih tuki ol te ka yaak eh.
22Thật dân ta là ngu muội, chúng nó chẳng nhìn biết ta. Aáy là những con cái khờ dại, không có trí khôn, khéo làm điều ác, mà không biết làm điều thiện.
22Ka pilnam kah a ang dongah kai m'ming uh pawh. Amih lunghmang camoe loh amamih nawn khaw yakming uh thae pawh. Amih te thaehuet ham tah cueih uh dae a then ham tah ming uh pawh.
23Tôi xem đất: nầy, là vô hình và trống không; xem các từng trời: thì không có sự sáng.
23Diklai he ka hmuh vaengah hinghong la hoeng coeng ke. Vaan ah khaw a vangnah om pawh.
24Tôi xem các núi, thấy đều rúng động; mọi gò đều lung lay.
24Tlang rhoek te ka hmuh vaengah hinghuen uh tih som rhoek khaw boeih ngooi coeng ke.
25Tôi xem: chẳng còn một người, hết thảy chim trời đều trốn tránh.
25Ka hmuh vaengah hlang om pawt tih vaan kah vaa khaw boeih poeng uh coeng ke.
26Tôi xem thấy ruộng tốt đã trở nên đồng vắng, hết thảy các thành đều bị hủy phá trước mặt Đức Giê-hô-va, bởi cơn nóng giận của Ngài.
26Ka hmuh vaengah cangphil cangngol te khosoek la poeh coeng ke. A khopuei boeih te BOEIPA mikhmuh neh amah kah thintoek thinsa hmai ah palet uh coeng.
27Vì Đức Giê-hô-va phán như vầy: Cả đất sẽ hoang vu, nhưng ta không diệt hết.
27Te dongah BOEIPA loh, “Diklai pum he khopong la om ni. Tedae a boeihnah hil ka saii mahpawh.
28Bởi cớ đó, đất sẽ sầu thảm, các từng trời sẽ tối đen. Vì ta đã phán, đã định, thì chẳng đổi ý, chẳng xây lại.
28Te dongah diklai he nguekcoi vetih vaan khaw a so ah kopang uh ni. Ka mangtaeng tih ka thui coeng dongah damti kolla anih ka mael tak mahpawh.
29Nghe tiếng ồn lính kỵ và lính bắn cung, thì hết thảy các thành đều chạy trốn; núp trong rừng cây, leo lên vầng đá; các thành đều bị bỏ, chẳng có người ở.
29marhang caem neh lii phuk ol ah khopuei khaw boeih yong coeng. Khomai khuila ael uh tih thaelsawk dongah yoeng uh. Khopuei te boeih a hnoo uh tih a khuikah khosa pakhat khaw om pawh.
30Còn ngươi, khi đã bị phá hủy, thì sẽ làm gì? Ngươi dầu có mặc áo màu tím, trang sức đồ vàng, lấy mực vẽ mắt, làm cho mình ra đẹp, cũng là vô ích: người yêu ngươi cũng khinh ngươi, mà đòi sự sống của ngươi.
30Nang ngawn tah, nang ngawn tah n'rhoelrhak coeng. A lingdik na bai tih, sui cangen na oi khaw, na mik ah mikdum neh na phen te banim na saii. Na sawtthen khaw a poeyoek la, nang te na pumben rhoek loh n'hnawt uh tih na hinglu a toem uh.
31Vì ta nghe tiếng, như tiếng đàn bà đẻ, tiếng thảm thương như tiếng đàn bà đẻ con so. Aáy là tiếng con gái Si-ôn, thở và giang tay ra mà rằng: Khốn nạn cho tôi! linh hồn tôi đã ngất đi trước mặt kẻ giết người!
31Ol pakhat te satloh bangla ka yaak. Zion nu kah ol camueng bangla citcai a yaak. A kut a phuel tih sa-oe sut. Anunae kai aih he hlang aka ngawn rhoek taengah ka hinglu loh lamlum sut.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.