Hê
Chapter 10
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Bible Mutal (Kosra…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Bible Mutal (Kosraean)
1Vả, luật pháp chỉ là bóng của sự tốt lành ngày sau, không có hình thật của các vật, nên không bao giờ cậy tế lễ mỗi năm hằng dâng như vậy, mà khiến kẻ đến gần Đức Chúa Trời trở nên trọn lành được.
1Ma Sap lun mwet Jew uh tia sie mwe srikasrak kalem ku suwohs nu ke ma na pwaye uh — lumah se na ma in akilenya ma wo su ac sikyak in pacl fahsru. Kain in kisa sefanna orek na pacl nukewa, yac nu ke yac. Ke ma inge, Ma Sap uh tia ku in aksuwosyela mwet su oru mwe kisa inge tuh elos in fototo nu sin God.
2Nếu được, thì những kẻ thờ phượng đã một lần được sạch rồi, lương tâm họ không còn biết tội nữa, nhân đó, há chẳng thôi dâng tế lễ hay sao?
2Mwet su alu nu sin God funu nasnasla na pwaye liki ma koluk lalos, elos lukun tia sifil pula mwatan ma koluk, na kain in kisa nukewa ac tui, tia sifil orek.
3Trái lại, những tế lễ đó chẳng qua là mỗi năm nhắc cho nhớ lại tội lỗi.
3A ke kisa uh orek ke yac nukewa, mwe na akesmakinye mwet uh ke ma koluk lalos.
4Vì huyết của bò đực và dê đực không thể cất tội lỗi đi được.
4Mweyen srahn cow mukul ac nani tiana ku in eela ma koluk.
5Bởi vậy cho nên, Đấng Christ khi vào thế gian, phán rằng: Chúa chẳng muốn hy sinh, cũng chẳng muốn lễ vật, Nhưng Chúa đã sắm sửa một thân thể cho tôi.
5Ke sripa se inge, ke Christ el tuh akola in tuku nu faclu, el fahk nu sin God: “Kom tia lungse mwe kisa ac mwe sang, A kom akoela sie mano nu sik.
6Chúa chẳng nhậm của lễ thiêu, cũng chẳng nhậm của lễ chuộc tội.
6Kom tia insewowo ke kosro ma fonna isisyak fin loang uh, Ku ke mwe kisa in eela ma koluk.
7Tôi bèn nói: Hỡi Đức Chúa Trời, nầy tôi đến-Trong sách có chép về tôi-Tôi đến để làm theo ý muốn Chúa.
7Na nga fahk, ‘O God, nga pa inge In oru ma lungse lom, Oana ke simla keik in book in Ma Sap.’”
8Trước đã nói: Chúa chẳng muốn, chẳng nhậm những hi sinh, lễ vật, của lễ thiêu, của lễ chuộc tội, đó là theo luật pháp dạy; sau lại nói: Đây nầy, tôi đến để làm theo ý muốn Chúa.
8El fahk meet mu, “Kom tia lungse ku insewowo ke mwe kisa ac mwe sang, ku ke kosro ma isikyukyak fin loang uh, ac ke kisa in eela ma koluk.” El fahk ouinge finne mwe kisa inge nukewa orek fal nu ke Ma Sap.
9Vậy thì, Chúa đã bỏ điều trước, đặng lập điều sau.
9Na el tufah fahk, “O God, nga pa inge, in oru ma lungse lom.” Ouinge God El sisla mwe kisa nukewa ma orek meet, ac El sang kisa lun Christ in aolla.
10Aáy là theo ý muốn đó mà chúng ta được nên thánh nhờ sự dâng thân thể của Đức Chúa Jêsus Christ một lần đủ cả.
10Ac ke sripen Jesus Christ el oru ma lungse lun God, kut nukewa aknasnasyeyukla liki ma koluk, ke sripen el sifacna kisakin manol pacl sefanna in akfalye pacl nukewa.
11Phàm thầy tế lễ mỗi ngày đứng hầu việc và năng dâng của lễ đồng một thức, là của lễ không bao giờ cất tội lỗi được,
11Mwet tol nukewa lun mwet Jew uh elos oru orekma kunalos len nukewa, ac oru kain in kisa se na pacl nukewa. Tusruktu mwe kisa inge tiana ku in eela ma koluk uh.
12còn như Đấng nầy, đã vì tội lỗi dâng chỉ một của lễ, rồi ngồi đời đời bên hữu Đức Chúa Trời,
12A Christ el oru kisa sefanna nu ke ma koluk, su ma na nwe tok, na el muta ke lapo layot sin God.
13từ rày về sau đang đợi những kẻ thù nghịch Ngài bị để làm bệ dưới chân Ngài vậy.
13El muta we ac soano pacl se ma God El ac oru tuh mwet lokoalok lal in oana sie ma loangeyen nial.
14Vì nhờ dâng chỉ một của tế lễ, Ngài làm cho những kẻ nên thánh được trọn vẹn đời đời.
14Ke mwe kisa sefanna el aksuwosyalosla nwe tok su aknasnasyeyuk tari liki ma kolok.
15Đức Thánh Linh cũng làm chứng cho chúng ta như vậy; vì đã phán rằng:
15Ac Ngun Mutal el oayapa orek loh nu sesr ke el fahk mu,
16Chúa phán: Nầy là giao ước ta lập với chúng nó Sau những ngày đó, Ta sẽ để luật pháp ta vào lòng chúng nó Và ghi tạc nơi trí khôn,
16“Leum God El fahk, Pa inge wuleang se ma nga ac oru yorolos Ke len su ac fah tuku: Nga ac fah filiya ma sap luk insialos Ac simusla in nunak lalos.”
17Lại phán: Ta sẽ chẳng còn nhớ đến tội lỗi gian ác của chúng nó nữa.
17Na El fahk, “Nga ac fah tia sifil esam ma koluk ac orekma sufal lalos.”
18Bởi hễ có sự tha thứ thì không cần dâng của lễ vì tội lỗi nữa.
18Ouinge ke ma koluk uh iyukla tari, sie mwe kisa nu ke eela ma koluk uh tia sifil eneneyuk.
19Hỡi anh em, vì chúng ta nhờ huyết Đức Chúa Jêsus được dạn dĩ vào nơi rất thánh,
19Ke ma inge, mwet wiuk in lulalfongi, oasr sukosok lasr inge in utyak nwe in Acn Mutal Na Mutal ke sripen misa lun Jesus.
20bởi đường mới và sống mà Ngài đã mở ngang qua cái màn, nghĩa là ngang qua xác Ngài,
20El ikasla nu sesr sie inkanek sasu, sie inkanek nu ke moul, ma sasla luin lisrlisr sac, aok, ke manol sifacna.
21lại vì chúng ta có một thầy tế lễ lớn đã lập lên cai trị nhà Đức Chúa Trời,
21Oasr mwet tol fulat se lasr su ma kunal pa in leumi lohm sin God inkusrao.
22nên chúng ta hãy lấy lòng thật thà với đức tin đầy dẫy trọn vẹn, lòng được tưới sạch khỏi lương tâm xấu, thân thể rửa bằng nước trong, mà đến gần Chúa.
22Ke ma inge lela kut in kalukyang nu yurin God ke inse pwaye ac lulalfongi pwaye, ke inse su aknasnasyeyukla tari liki ouiya koluk, ac mano su oulyukla tari ke kof nasnas.
23Hãy cầm giữ sự làm chứng về điều trông cậy chúng ta chẳng chuyển lay, vì Đấng đã hứa cùng chúng ta là thành tín.
23Lela kut in sruokyana ku finsrak se su kut fahkak inge, mweyen kut ku in lulalfongi lah God El ac oru oana ma El wulela kac.
24Ai nấy hãy coi sóc nhau để khuyên giục về lòng yêu thương và việc tốt lành;
24Lela kut in arulana nunku ke sie sin sie, ac akasrui in akkalemye lungse lasr nu sin sie sin sie ac in oru ma wo.
25chớ bỏ sự nhóm lại như mấy kẻ quen làm, nhưng phải khuyên bảo nhau, và hễ anh em thấy ngày ấy hầu gần chừng nào, thì càng phải làm như vậy chừng nấy.
25Lela kut in tia fuhleak tukeni lasr nu ke pacl in alu, oana ke kutu mwet uh oru. A kut in akkeye sie sin sie yohk liki meet, oana kowos liye tuh Len lun Leum apkuranme.
26Vì nếu chúng ta đã nhận biết lẽ thật rồi, mà lại cố ý phạm tội, thì không còn có tế lễ chuộc tội nữa,
26Kut fin sulela in oru na ma koluk tukun ma pwaye uh akkalemyeyuk tari nu sesr, na wangin mwe kisa ac ku in eela ma koluk lasr.
27nhưng chỉ có sự đợi chờ kinh khiếp về sự phán xét, và lửa hừng sẽ đốt cháy kẻ bội nghịch mà thôi.
27Ac wangin ma kut ku in oru sayen soano ac sangeng ke nununku se su ac fah tuku, oayapa ke e upa se ma ac fah kunauselosla su lain God!
28Ai đã phạm luật pháp Môi-se, nếu có hai ba người làm chứng, thì chết đi không thương xót,
28Kutena mwet su seakos Ma Sap lal Moses uh ac anwuki, ac wangin pakoten nu sel fin koneyukyak tuh na oasr mwatal ke sripen mwe loh lun mwet luo ku pus liki.
29huống chi kẻ giày đạp Con Đức Chúa Trời, coi huyết của giao ước, tức là huyết mà mình nhờ nên thánh, là ô uế, lại khinh lờn Đức Thánh Linh ban ơn, thì anh em há chẳng tưởng rằng người ấy đáng bị hình rất nghiêm đoán phạt hay sao?
29Na mea ac orek nu sin mwet se su kwase Wen nutin God; su aklusrongtenye srah in wuleang lun God ma aknasnasyalla liki ma koluk; su kaskas enum lain Ngun in kulang? Nunku lah fuka lupan mwe keok ac fal nu sin mwet se inge!
30Vì chúng ta biết Đấng đã phán rằng: Sự trả thù thuộc về ta; ta sẽ báo ứng, ấy là lời Chúa phán. Lại rằng: Chúa sẽ xét đoán dân mình.
30Tuh kut etu El su fahk, “Nga ac fah foloksak, nga fah moli”, ac su oayapa fahk, “Leum El ac fah nununku mwet lal.”
31Sa vào tay Đức Chúa Trời hằng sống là sự đáng kinh khiếp thay!
31Sie mwe sangeng na lulap mwet se fin putatyang nu inpoun God moul!
32Hãy nhớ lại những lúc ban đầu đó, anh em đã được soi sáng rồi, bèn chịu cơn chiến trận lớn về những sự đau đớn:
32Esam ouiya ma orek nu suwos in pacl meet ah, ke pacl se kalem lun God tufahna tolkowosyak. Kowos tuh keok ke ma puspis, tusruktu kowos tiana kutangyukla ke ma upa inge.
33phần thì chịu sỉ nhục, gặp gian nan, như làm trò cho thiên hạ xem, phần thì chia khổ với những kẻ bị đối đãi đồng một cách.
33Oasr pacl mwet uh kaskas koluk keiwos ac orekowos koluk ye mutun mwet uh, ac kutu pacl uh kowos wi ipeis ke mwe keok ma orek nu sin mwet ngia.
34Vì anh em đã thương xót kẻ bị tù, và vui lòng chịu của cải mình bị cướp, bởi biết mình có của cải quí hơn hằng còn luôn.
34Kowos wi pac pulakin keok lun mwet kapir, ac ke sruoh ma lowos nukewa, kowos mutangla ac tia toasr kac, mweyen kowos etu lah srakna oasr ma lowos su wo liki ma inge, su ac oanna nwe tok.
35Vậy chớ bỏ lòng dạn dĩ mình, vốn có một phần thưởng lớn đã để dành cho.
35Ke ma inge, kowos in pulaik ac tia fuhleak, mweyen pulaik lowos ac sot sie mwe moul na yohk.
36Vì anh em cần phải nhịn nhục, hầu cho khi đã làm theo ý muốn Đức Chúa Trời rồi, thì được như lời đã hứa cho mình.
36Kowos enenu in muteng, kowos in mau oru ma lungse lun God ac eis ma su El wulela kac.
37Còn ít lâu, thật ít lâu nữa, Thì Đấng đến sẽ đến; Ngài không chậm trễ đâu.
37Tuh oana ke Ma Simusla uh fahk, “Kitin pacl na lula, Na el su ac tuku el fah tuku; El fah tia paht.
38Người công bình của ta sẽ cậy đức tin mà sống, Nhưng nếu lui đi thì linh hồn ta chẳng lấy làm đẹp chút nào.
38Mwet suwoswos luk elos ac lulalfongi ac moul; A kutena selos fin forla likiyu, Nga ac fah tia insewowo sel.”
39Về phần chúng ta, nào phải là kẻ lui đi cho hư mất đâu, bèn là kẻ giữ đức tin cho linh hồn được cứu rỗi.
39Kut tia oana mwet ma forla ac tuhlac. Oasr lulalfongi lasr, pwanang kut ac fah moliyukla.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.