II Sử 10
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Bible Mutal (Kosraean)
1Rô-bô-am đi đến Si-chem, vì cả Y-sơ-ra-ên đều đã tới Si-chem đặng tôn người làm vua.
1Rehoboam el som nu Shechem, yen mwet nukewa epang in Israel elos fahsreni nu we in oru tuh elan tokosrala.
2Khi Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, hay điều đó, thì còn ở Ê-díp-tô, là nơi người đã trốn, để thoát khỏi mặt Sa-lô-môn; người bèn từ Ê-díp-tô trở về.
2Ke Jeroboam, wen natul Nebat, su tuh som nu Egypt in kaing lukel Tokosra Solomon, el lohng pweng se inge, na el folokla nu yen sel.
3Người ta sai kẻ đi gọi người về; đoạn Giê-rô-bô-am và cả Y-sơ-ra-ên đều đến tâu với Rô-bô-am rằng:
3Mwet in sruf epang elos sapla solal, ac elos nukewa tukeni som nu yorol Rehoboam ac fahk nu sel,
4Thân phụ vua đã gán ách nặng cho chúng tôi, vậy bây giờ, hãy giảm nhẹ sự phục dịch khó nhọc này và cái ách nặng nề mà thân phụ vua đã gán trên chúng tôi, thì chúng tôi sẽ phục sự vua.
4“Papa tomom ah tuh use mwe utuk na toasr nu facsr. Tusruktu kom fin akfusrasryela mwe utuk inge, na kut ac fah mwet kulansap pwaye nu sum.”
5Người đáp với chúng rằng: Khỏi ba ngày, các ngươi hãy trở lại cùng ta. Dân sự bèn lui về.
5Na Rehoboam el fahk, “Se nu sik len tolu nga in nunku kac, na kowos fah sifil foloko.” Ouinge mwet uh som.
6Vua Rô-bô-am bàn nghị cùng các trưởng lão đã chầu trước mặt Sa-lô-môn, cha người, trong lúc Sa-lô-môn còn sống, mà rằng: Các ngươi bàn luận cho ta phải trả lời với dân sự này làm sao?
6Tokosra Rehoboam el siyuk sin mwet matu su tuh mwet kasru lal Solomon, papa tumal, ac fahk, “Top fuka kowos nunku mu fal nga in sang topuk siyuk lun mwet inge?”
7Các trưởng lão thưa lại với vua rằng: Nếu vua đãi dân sự này tử tế, ăn ở vui lòng cùng chúng nó, và lấy lời hiền lành nói với chúng nó, ắt chúng nó sẽ làm tôi tớ vua mãi mãi.
7Elos topuk ac fahk, “Kom fin kulang nu sin mwet ingan ac akinsewowoyalos ac sulela sie top wowo an nu selos, na elos ac fah oaru in kulansupwekom pacl nukewa.”
8Song Rô-bô-am chẳng theo mưu của các trưởng lão đã bàn cho mình, bèn hội nghị với các người trai trẻ đã đồng sanh trưởng với mình, và chầu trước mặt mình,
8Tusruktu el pilesru kas in kasru lun mwet matu, ac som nu yurin mwet fusr su nuna welul ke elos tulik ah me, ac inge el oru mu elos pa mwet kasru lal.
9mà rằng: Dân sự này đã tâu với ta rằng: Hãy giảm nhẹ cái ách mà thân phụ vua đã gán cho chúng tôi; vậy các ngươi bàn luận cho ta phải đáp với chúng nó làm sao?
9El siyuk selos, “Mea kowos nunku mu wo nga in oru? Ke mwet uh siyuk ngan akmulalaye enu lalos uh, mea nga ac fahk nu selos?”
10Các gã trai trẻ đồng lớn lên với người thưa rằng: Dân sự đã thưa với vua rằng: Thân phụ vua khiến cho ách chúng tôi nặng nề; vua hãy làm cho nó ra nhẹ; vua phải đáp lại cùng chúng như vầy: Ngón tay út ta lớn hơn lưng của cha ta.
10Elos topuk, “Pa inge ma kom ac fahk nu selos an: ‘Kuf srisrik soko ke pouk uh yohk liki infulwen papa tumuk ah.’
11Vậy, bây giờ, cha ta đã gán một cái ách nặng trên các ngươi, ắt ta sẽ làm cho ách các ngươi thêm nặng hơn; cha ta đã sửa phạt các ngươi bằng roi, còn ta sẽ sửa phạt các ngươi bằng roi bò cạp.
11Fahk nu selos mu, ‘Papa tumuk el sot enu toasr nu fowos, a nga ac sot in toasr liki. El puok kowos ke mwe sringsring, a nga fah sringil kowos ke scorpion!’”
12Ngày thứ ba, Giê-rô-bô-am và cả dân sự đều đến cùng Rô-bô-am y như vua đã biểu rằng: Hãy trở lại cùng ta trong ngày thứ ba.
12Tukun len tolu, Jeroboam ac mwet nukewa folokla nu yorol Rehoboam, oana ke el tuh fahk nu selos ah.
13Vua Rô-bô-am đáp với dân sự cách xẳng xớm, bỏ mưu của các trưởng lão đã bàn,
13Tokosra el pilesru kas in kasru lun mwet matu, a el kaskas upa nu sin mwet uh.
14theo lời bàn của những kẻ trai trẻ, và đáp cùng chúng rằng: Cha ta khiến cho ách các ngươi nặng nề; ta sẽ làm cho ách các ngươi thêm nặng hơn; cha ta sửa phạt các ngươi bằng roi, ta sẽ sửa phạt các ngươi bằng roi bò cạp.
14El fahk oana ke mwet fusr wial elos fahk, “Papa tumuk el sot enu toasr nu fowos, a nga ac sot in toasr liki! El puok kowos ke mwe sringsring, a nga ac sringil kowos ke sucl lulap!”
15Như vậy, vua không nghe lời dân sự, vì ấy là bởi Đức Chúa Trời dẫn đến, hầu cho Đức Giê-hô-va làm ứng nghiệm lời của Ngài đã nhờ A-hi-gia, người Si-lô, mà phán cùng Giê-rô-bô-am, con trai của Nê-bát.
15Pa ingan ma lungse lun LEUM GOD in akpwayeye ma El tuh fahk nu sel Jeroboam, wen natul Nebat, in kas lun mwet palu Ahijah mwet Shiloh. Pa inge sripa se sis tokosra el tiana lohang nu sin mwet uh.
16Khi cả Y-sơ-ra-ên thấy vua không nghe lời họ, bèn đáp cùng người, mà rằng: Chúng ta có phần gì với Đa-vít? Chúng ta chẳng có cơ nghiệp gì với con trai Y-sai. Hỡi Y-sơ-ra-ên! mỗi người hãy trở về trại mình đi. ù Đa-vít! từ rày khá coi chừng nhà của ngươi. Cả Y-sơ-ra-ên bèn trở về trại mình.
16Ke mwet uh liye tuh tokosra el tiana lohngolos, na elos wowoyak ac fahk, “Tolulla David ac sou lal! Mea elos nu orala nu sesr? Mwet Israel, kut som nu yen sesr! Lela Rehoboam elan sifacna liyalang!” Ouinge mwet Israel elos orek alein,
17Nhưng còn dân Y-sơ-ra-ên ở tại các thành Giu-đa thì Rô-bô-am cai trị trên chúng.
17pwanang Rehoboam el tokosra lun mwet ma muta Judah mukena.
18Bấy giờ, vua Rô-bô-am sai Ha-đô-ram, là người cai quản việc cống thuế, đến cùng dân Y-sơ-ra-ên; song dân Y-sơ-ra-ên ném đá người, thì người chết. Vua Rô-bô-am lật đật lên xe trốn về Giê-ru-sa-lem.
18Na Tokosra Rehoboam el supwalla Adoniram, su kol orekma lun mwet kohs, elan som nu yurin mwet Israel, a elos tanglal nwe ke el misa. Ke ma inge, Rehoboam el sulaklak sroang nu fin chariot natul, ac kaingla nu Jerusalem.
19Aáy vậy, Y-sơ-ra-ên phản nghịch cùng nhà Đa-vít cho đến ngày nay.
19In pacl sac me, mwet epang in Israel elos alein na nu sin mwet nukewa su leum sin fwilin tulik natul David.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.