I Cô 8
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Kadede Kap (Pohnpeian New Testament and Psalms)
1Luận đến của cúng các thần tượng thì chúng ta biết mình đều có sự hay biết cả. -Song sự hay biết sanh kiêu căng, còn sự yêu thương làm gương tốt.
1A kitail ajaer duen mairow on ani mal, pwe kitail karoj me lolekow. A lolekow eta kin kaaklapalapiela, a limpok kin kamauiela. wiaw. in. iu
2Nếu có ai tưởng mình biết điều gì, thật người ấy chưa biết như mình nên biết.
2A ma amen aklapalapaki a lolekon, nan a jota non dedeki duen me itar on en aja.
3Nhưng nếu có một người yêu mến Đức Chúa Trời, thì Đức Chúa Trời biết người đó. -
3A ma amen pok on Kot, nan Kot me mani i.
4Vậy, về sự ăn của cúng tế các thần tượng, chúng ta biết thần tượng trong thế gian thật là hư không, chỉ có một Đức Chúa Trời, chớ không có thần nào khác.
4A kitail dedekier duen mana uduk en mairon on ani mal akan, pwe ani mal amen jota katepa nin jappa, o jota amen Kot, pwe I me ta men.
5Thật người ta xưng có các thần khác, hoặc ở trên trời, hoặc ở dưới đất, (bởi đó họ thờ nhiều thần nhiều chúa),
5Pwe ma akai mia, me adaneki kot, me kin mimi nanlaw de nin jappa, pwe kot toto o monjap toto mia;
6về phần chúng ta, chỉ có một Đức Chúa Trời mà thôi, là Đức Chúa Cha, muôn vật bởi Ngài mà ra, và chúng ta hướng về Ngài; lại chỉ có một Chúa mà thôi, là Đức Chúa Jêsus Christ, muôn vật đều nhờ Ngài mà có, và chúng ta cũng vậy.
6A atail Kot me ta men, me Jam, me dipijou karoj tapi jan re a, o me kitail wiaui on. O atail Kaun me ta men: Iejuj Krijtuj, me wiadar meakaroj, o me kitail pil wiaui kidar i.
7Nhưng chẳng phải mọi người đều có sự hay biết đó. Một đôi người vì nghĩ thường có thần tượng, nên khi ăn của cúng tế đó cho là của cúng tế thần tượng; thì lương tâm yếu đuối của họ bởi đó ra ô uế.
7A kaidin karoj me aja mepukat, pwe akai mia, me lamelame, me ani mal meakot, ap kankan uduk en mairon on ani mal, o iei injen luet arail kin jamin kila.
8Vả, ấy chẳng phải là đồ ăn làm cho chúng ta được đẹp lòng Đức Chúa Trời; nếu chúng ta ăn, chẳng được ích gì, bằng không ăn, cũng chẳng tổn gì.
8A kijin mana jota kin jauaja kitail ren Kot. Ma kitail jota pan mana, kitail jota pan jued kila, a ma kitail pan mana, kitail jota pan mau kila.
9Nhưng hãy giữ lấy, kẻo sự tự do mình làm dịp cho kẻ yếu đuối vấp phạm.
9A kalaka komail, pwe omail jaladokalar ender kadipikelekel on me luet akan!
10Bởi vì, nếu có kẻ lương tâm yếu đuối thấy ngươi là người có sự hay biết ngồi ăn trong miếu tà thần, thì há chẳng cũng bắt chước mà ăn của cúng tế sao?
10Pwe ma koe, me aja tiak, ap manamana nan im en ani mal o, a me luet amen pan kilan om manamana, ap aima kida nan injen a, ap ian manamana mairon en ani mal akan,
11Thế thì ngươi lấy sự hay biết mình mà làm hư mất kẻ yếu đuối, là người anh em mà Đấng Christ đã chết thế cho!
11Iduen ri atail luet amen, me Krijtuj mata kilar, pan mekila om jaladok.
12Khi nào mình phạm tội cùng anh em như vậy, làm cho lương tâm yếu đuối của họ bị thương, thì là phạm tội cùng Đấng Christ.
12A ma iduen omail dip ion ri atail akan, me kin kawela injen luet arail, nan komail kin wia dip ion Krijtuj.
13Cho nên, nếu đồ ăn xui anh em tôi vấp phạm, thì tôi sẽ chẳng hề ăn thịt, hầu cho khỏi làm dịp vấp phạm cho anh em tôi.
13Ari ma kijin mana kamakar ri ai, i jolar pan mana uduk kokolata, pwe i de kamakar ri ai.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.