Ioanej 3
Kadede Kap (Pohnpeian New Testament and Psalms)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1ARAMAJ amen mia, kijan Parjar akan, me mar a Nikodemuj, me jaumaj amen ren Juj akan,
1Trong vòng người Pha-ri-si, có người tên là Ni-cô-đem, là một người trong những kẻ cai trị dân Giu-đa.
2Me poto don i ni pon o, katiti on i: Rapi, je aja, me komui jaunpadak amen, me tapido jan ren Kot, pwe jota, me kak wia kilel akan due me komui kotin wiada, ma Kot jo ian.
2Ban đêm, người nầy đến cùng Đức Chúa Jêsus mà nói rằng: Thưa thầy, chúng tôi biết thầy là giáo sư từ Đức Chúa Trời đến; vì những phép lạ thầy đã làm đó, nếu Đức Chúa Trời chẳng ở cùng, thì không ai làm được.
3Iejuj kotin japen majani on i: Melel, melel I indai on uk, meamen jo ipwi japal, jota pan kak kilan wein Kot.
3Đức Chúa Jêsus cất tiếng đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng ngươi, nếu một người chẳng sanh lại, thì không thể thấy được nước Đức Chúa Trời.
4Nikodemuj potoan on i: laduen aramaj laud pan kak ipwidi? A pan kak pur on nan kaped en in a, ipwidi jan?
4Ni-cô-đem thưa rằng: Người đã già thì sanh lại làm sao được? Có thể nào trở vào lòng mẹ và sanh lần thứ hai sao?
5Iejuj kotin japen: Melel, melel I indai on uk, meamen jo ipwiki pil o nen, a jota kak pedelon on nan wein Kot!
5Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng ngươi, nếu một người chẳng nhờ nước và Thánh Linh mà sanh, thì không được vào nước Đức Chúa Trời.
6Me ipwiki uduk, iei uduk, a me ipwiki Nen, iei nen.
6Hễ chi sanh bởi xác thịt là xác thịt; hễ chi sanh bởi Thánh Linh là thần.
7Koe der puriamuiki, me I katitiki on uk: Komail en ipwi japal.
7Chớ lấy làm lạ về điều ta đã nói với ngươi: Các ngươi phải sanh lại.
8An kin pein ipip jili, o koe kin ron nil a, a koe jaja, waja a tapi jan ia o waja a ko on ia; iduen amen amen, me ipwiki Nen.
8Gió muốn thổi đâu thì thổi, ngươi nghe tiếng động; nhưng chẳng biết gió đến từ đâu và cũng không biết đi đâu. Hễ người nào sanh bởi Thánh Linh thì cũng như vậy.
9Nikodemuj japen indai on i: Iaduen mepukat kak wiaui?
9Ni-cô-đem lại nói: Điều đó làm thể nào được?
10Iejuj kotin japen majani on i: Jaunpadak en Ijrael amen koe, a koe jaja duen mepukat?
10Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ngươi là giáo sư của dân Y-sơ-ra-ên, mà không hiểu biết những điều đó sao!
11Melel, melel I indai on uk, me je ajadar, iei me je kin indada, o me je kilaner, iei me je katitiki, a komail jota kin kamelele at kadede.
11Quả thật, quả thật, ta nói cùng ngươi, chúng ta nói điều mình biết, làm chứng điều mình đã thấy; còn các ngươi chẳng hề nhận lấy lời chứng của chúng ta.
12Ma I katitiki on komail men pa, a komail ap jota kamelele, a iaduen, komail pan kamelele, ma I katitiki on komail men nanlan?
12Ví bằng ta nói với các ngươi những việc thuộc về đất, các ngươi còn chẳng tin thay; huống chi ta nói những việc thuộc về trời, thì các ngươi tin sao được?
13Jota meamen, me kodala nanlan, i eta, me kodido jan nanlan, Nain aramaj, me kin mimieta nanlan.
13Chưa hề có ai lên trời, trừ ra Đấng từ trời xuống, ấy là Con người vốn ở trên trời.
14Duen Mojej me kauadar jerpent amen nan jap tan, iduen Nain aramaj pan kakauda.
14Xưa Môi-se treo con rắn lên nơi đồng vắng thể nào, thì Con người cũng phải bị treo lên dường ấy,
15Pwe meamen pojonla i, jota pan lokidokila, a en aneki maur joutuk.
15hầu cho hễ ai tin đến Ngài đều được sự sống đời đời.
16Pwe iet duen Kot kotin kupura jappa, me a kotikidoki japwilim a Ieroj, pwe karoj, me pojonla i, ender jalonala, a en aneki maur joutuk.
16Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời.
17Pwe Kot me kotin porone don jappa japwilim a ol, kaidin en kadeikada jappa, a pwe jappa en kamauri kila i.
17Vả, Đức Chúa Trời đã sai Con Ngài xuống thế gian, chẳng phải để đoán xét thế gian đâu, nhưng hầu cho thế gian nhờ Con ấy mà được cứu.
18Me pojon i, jota pan pakadeikada, a me jo pojon i, iei pakadeikadar, pweki a jota pojon mar en japwilim en Kot ieroj.
18Ai tin Ngài thì chẳng bị đoán xét đâu; ai không tin thì đã bị đoán xét rồi, vì không tin đến danh Con một Đức Chúa Trời.
19A iet kadeik o, marain pwara don jappa, a aramaj pok on rotorot mon marain, pweki ar wiawia kan me jued.
19Vả, sự đoán xét đó là như vầy: sự sáng đã đến thế gian, mà người ta ưa sự tối tăm hơn sự sáng, vì việc làm của họ là xấu xa.
20Pwe amen amen, me wiawia jued, kin kailonki marain, o jota kin pwara don marain, pwe a wiawia kan de janjaleda.
20Bởi vì phàm ai làm ác thì ghét sự sáng và không đến cùng sự sáng, e rằng công việc của mình phải trách móc chăng.
21A me wiawia melel, kin ko don marain, pwe a wiawia kan en janjaleda, me re tapi jan ren Kot.
21Nhưng kẻ nào làm theo lẽ thật thì đến cùng sự sáng, hầu cho các việc của mình được bày tỏ ra, vì đã làm trong Đức Chúa Trời.
22Murin mepukat Iejuj o japwilim a tounpadak kan kotilan jap en Iudaa ap kotikot ia wia paptaij.
22Kế đó, Đức Chúa Jêsus đi với môn đồ đến đất Giu-đê; Ngài ở với môn đồ tại đó, và làm phép báp têm.
23A Ioanej pil wia paptaij Enon koren ion Jalim, aki pil toto mi waja o, irail ari koieila paptaij ela.
23Giăng cũng làm phép báp têm tại Ê-nôn, gần Sa-lim, vì ở đó có nhiều nước, và người ta đến đặng chịu phép báp têm.
24Pwe Ioanej jaikenta lokidokilar nan imaten.
24Bấy giờ Giăng chưa bị bỏ vào ngục.
25En Ioanej a tounpadak kan o ol en Juj amen ap akamaiki pena duen kamakelekel.
25Vả, môn đồ của Giăng có cãi lẫy với một người Giu-đa về lễ tinh sạch.
26Irail ari ko don ren Ioanej indan i: Rapi, me kot re omui palilan Iordan, me komui kin kadede, majani, a kin wia paptaij o karoj kin pwarala re a.
26Họ đến cùng Giăng và nói rằng: Thưa thầy, kìa, người ở cùng thầy bên kia sông Giô-đanh, mà thầy đã làm chứng cho, bây giờ đang làm phép báp têm, và ai nấy đều đến cùng người.
27Ioanej japen majani: Aramaj amen jota kak aneki meakot, ma a jo aneki jan nanlan.
27Giăng trả lời rằng: Ví chẳng từ trên trời ban cho, thì không một người nào có thể lãnh chi được.
28Komail pein kadede kin ia, me i indada: Kaidin Krijtuj nai, pwe nai me pakatarador mo a.
28Chính các ngươi làm chứng cho ta rằng ta đã nói: Aáy không phải ta là Đấng Christ, nhưng ta đã được sai đến trước Ngài.
29Me li amen kijin nin on, iei oI kamod. A kompoke pan ol kamod kin u roneron perenki nil en ol kamod; ari, iei ai peren unjokala.
29Ai mới cưới vợ, nấy là chàng rể, nhưng bạn của chàng rể đứng gần và nghe người, khi nghe tiếng của chàng rể thì rất đỗi vui mừng; ấy là sự vui mừng trọn vẹn của ta đó.
30I en kakairida, a nai en kakairidi.
30Ngài phải dấy lên, ta phải hạ xuống.
31Me kotido jan poa, i me poedi karoj, a me kijan jappa, iei men jappa, o a kin kajokajoia duen jappa. A me kotido jan nanlan, me poedi karoj,
31Đấng từ trên cao đến là trên hết mọi loài. Kẻ từ đất đến là thuộc về đất, và nói ra cũng như là thuộc về đất; còn Đấng từ trời đến thì trên hết mọi loài.
32O me a kilanada o ronada, iei me a kin kadedeki, a jota me kamelele a kadede.
32Ngài làm chứng về điều Ngài đã thấy và nghe; song không có ai nhận lấy lời chứng của Ngài.
33A me kamelele a kadede, kin kadede, me Kot me melel.
33Ai đã nhận lấy lời chứng của Ngài thì làm chứng chắc rằng Đức Chúa Trời là thật.
34Pwe i, me Kot kotin poronedor, kin kida en Kot a majan, pwe Kot jota kotikida Nen ki men jon.
34Vì Đấng mà Đức Chúa Trời đã sai đến thì rao truyền lời của Đức Chúa Trời, bởi Đức Chúa Trời ban Thánh Linh cho Ngài không chừng mực.
35Jam me kotin kupura japwilim a ol o kotiki oner ni lim a meakaroj.
35Cha yêu Con, và đã giao hết mọi vật trong tay Con.
36Me pojon japwilim a ol, aneki maur joutuk. A me jota pojon japwilim a ol, jota pan kilan maur, a onion en Kot pan mimieta re a.
36Ai tin Con, thì được sự sống đời đời; ai không chịu tin Con, thì chẳng thấy sự sống đâu, nhưng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời vẫn ở trên người đó.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.