Luo Chronicle 31
Bible Mutal (Kosraean)Translation
Bible Mutal (Kosraean)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Tukun safla kufwa uh, mwet Israel nukewa som nu in kais sie siti lun Judah, ac fukulya sru eot, ac kunausla ma sruloala ma orekla in luman god mutan Asherah, oayapa loang ac acn in alu lun mwet pegan. Elos oru ouinge in acn nukewa saya lun Judah, ac in acn lun Benjamin, Ephraim, ac Manasseh. Na elos nukewa folokla nu yen selos.
1Khi các việc ấy đã xong, những người Y-sơ-ra-ên có mặt tại đó đi ra các thành Giu-đa, đập bể những trụ thờ, đánh đổ các thần A-sê-ra, phá dỡ những nơi cao, và các bàn thờ trong khắp đất Giu-đa, Bên-gia-min, Eùp-ra-im, và Ma-na-se, cho đến khi đã phá hủy hết thảy. Đoạn, hết thảy dân Y-sơ-ra-ên ai nấy đều trở về thành mình, về nơi sản nghiệp mình.
2Tokosra Hezekiah el sifilpa nawu oakwuk lun mwet tol ac mwet Levi, fal nu ke orekma kunen kais sie u lalos. Ma kunalos inge pa: in kisakin mwe kisa firir ac mwe kisa in akinsewowo, in oru ip kunalos ke alu in Tempul, ac fahkak kaksak ac kulo ke kais sie acn in Tempul.
2Ê-xê-chia lập lại các ban thứ của những thầy tế lễ và của người Lê-vi, tùy theo phần việc của mỗi người đặng dâng của lễ thiêu và của lễ thù ân, đặng phụng sự, cảm tạ, và hát ngợi khen Chúa tại nơi các cửa trại của Đức Giê-hô-va.
3Tokosra Hezekiah el use sheep ac cow mukul natul sifacna tuh in mwe kisa firir ke lotutang ac eku nukewa, oayapa nu ke ma kisakinyuk ke len Sabbath ac ke Kufwen Malem Sasu, ac ke kufwa saya ma eneneyuk in orek fal nu ke Ma Sap lun LEUM GOD .
3Người cũng định phần vua phải lấy trong tài sản mình đặng dùng làm của lễ thiêu về buổi sớm mai và buổi chiều, cùng dùng về những của lễ thiêu trong ngày sa-bát, ngày mồng một, và trong các ngày lễ trọng thể, y như đã chép trong luật pháp của Đức Giê-hô-va.
4Sayen ma inge, tokosra el sap mwet in acn Jerusalem in use pac mwe kite lalos nu sin mwet tol ac mwet Levi fal nu ke ma oakwuk, tuh elos in ku in sang pacl lalos nufon in akfalye orekma nukewa ma akkalemyeyuk ke Ma Sap lun LEUM GOD .
4Người cũng truyền cho dân sự ở tại Giê-ru-sa-lem, phải cung cấp phần của những thầy tế lễ và người Lê-vi, hầu cho chúng chuyện lo gìn giữ luật pháp của Đức Giê-hô-va.
5Tukunna sapkinyuk ma inge, na mwet Israel elos use fahko se meet ke fokin ima lalos, wain, oil in olive, honey, ac kutu pac fokin sacn sunalos, oayapa sie tafu singoul ke ma lalos nukewa.
5Khi chỉ dụ của vua mới truyền ra, thì dân Y-sơ-ra-ên đem đến rất nhiều sản vật đầu mùa về ngũ cốc, rượu, dầu, mật, và những thổ sản khác; chúng đem đến một phần mười của mọi vật thật rất nhiều.
6Mwet Israel ac mwet Judah nukewa su muta in siti lun Judah elos use sie tafu singoul ke cow ac sheep natulos, ac elos oayapa use mwe sang puspis su elos srela tuh in ma lun LEUM GOD lalos.
6Người Y-sơ-ra-ên và người Giu-đa ở trong các thành xứ Giu-đa, cũng đều đem đến nộp một phần mười về bò và chiên, cùng một phần mười về các vật đã biệt riêng ra thánh cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng, rồi để ra từng đống.
7Elos mutawauk in orani mwe sang inge ke malem se aktolu, na elos sifilpa elosak ma utukeni nwe ke malem akosr pac toko.
7Tháng thứ ba, chúng khởi gom lại từng đống, và qua đến tháng bảy mới xong.
8Ke Tokosra Hezekiah ac mwet pwapa lal elos liye lupan ma orekeni inge, elos kaksakin LEUM GOD ac kaksakin mwet lal, mwet Israel.
8Khi Ê-xê-chia và các quan trưởng đến, thấy các đống ấy, thì ngợi khen Đức Giê-hô-va, và chúc phước cho dân Y-sơ-ra-ên của Ngài.
9Tokosra el sramsramkin mwe kite inge nu sin mwet tol ac mwet Levi,
9Ê-xê-chia hỏi thăm những thầy tế lễ và người Lê-vi về tích những đống ấy.
10na Azariah, mwet Tol Fulat su ma in sou lal Zadok, el fahk nu sel, “Ke pacl se na mwet uh mutawauk in usani mwe sang lalos nu in Tempul, arulana yohk mwe mongo nasr. Kalem lah LEUM GOD El akinsewowoye mwet lal, pwanang yolyak pac ma oan inge.”
10A-xa-ria, thầy tế lễ cả về dòng Xa-đốc, thưa lại cùng người mà rằng: Từ khi dân sự khởi đem lễ vật vào trong đền Đức Giê-hô-va, thì chúng tôi có ăn được đầy đủ, và còn dư lại nhiều; vì Đức Giê-hô-va đã ban phước cho dân sự Ngài; còn số nhiều này, ấy là phần dư lại.
11Na Tokosra Hezekiah el sap elos in akoela kutu nien filma in Tempul, ac elos oru,
11Ê-xê-chia truyền dọn dẹp các phòng trong đền Đức Giê-hô-va; người ta bèn dọn dẹp,
12ac likiya mwe sang ac sie tafu singoul nukewa in karinginyuk we. Elos sulela mwet Levi se pangpang Conaniah in karingin ma inge, ac Shimei, tamulel se lal, in mwet kasru lal.
12rồi đem vào cách ngay thẳng các lễ vật, thuế một phần mười, và các vật thánh. Cô-na-nia, người Lê-vi, cai quản những vật ấy, và Si-mê-i, em người, làm phó;
13Mwet Levi singoul srisrngiyuki in orekma yoroltal, ac pa inge inelos: Jehiel, Azaziah, Nahath, Asahel, Jerimoth, Jozabad, Eliel, Ismachiah, Mahath, ac Benaiah. Ma inge nukewa orekla ke sap lal Tokosra Hezekiah ac Azariah, Mwet Tol Fulat.
13còn Giê-hi-ên, A-xa-xia, Na-hát, A-sa-ên, Giê-ri-mốt, Giô-sa-bát, Ê-li-ên, Gít-ma-kia, Ma-hát, và Bê-na-gia, đều làm kẻ coi sóc dưới quyền Cô-na-nia và Si-mê-i, em người, cứ theo lịnh của vua Ê-xê-chia và A-xa-ria, là người cai trị đền Đức Chúa Trời.
14Ma kunal Kore wen natul Imnah, sie mwet Levi su sifen mwet topang su taran Mutunpot Kutulap ke Tempul, in eisani mwe sang ma orekeni nu sin LEUM GOD , ac kitalik nu sin mwet tol ac mwet Levi.
14Cô-rê, con trai của Dim-na, người Lê-vi, là kẻ giữ cửa phía đông, được đặt cai quản các lễ vật lạc ý dâng cho Đức Chúa Trời, đặng phân phát các lễ vật dâng cho Đức Giê-hô-va và những vật rất thánh.
15In siti saya, yen oasr mwet tol muta we, mwet Levi inge pa mwet kasru lal Kore: Eden, Miniamin, Jeshua, Shemaiah, Amariah, ac Shecaniah. Elos arulana oaru in kitalik mwe mongo nu sin mwet Levi wialos, ke lupa ma fal nu ke orekma kunalos,
15Dưới tay người có Ê-đen, Min-gia-min, Giê-sua, Sê-ma-gia, A-ma-ria, và Sê-ca-nia, ở trong các thành thầy tế lễ, đặng phân phát lễ vật ấy cách công bình cho anh em mình, hoặc nhỏ hay lớn, thao ban thứ của họ.
16ac tia ke sou. Elos sang ma nun mukul nukewa yac toluyak, su oasr orekma kunalos ke kais sie len in Tempul, fal nu ke ma kuneyuk elos nu kac.
16Ngoại trừ những nam đinh đã biên tên vào gia phổ từ ba tuổi sắp lên, tức những kẻ theo ban thứ mình mà vào đền Đức Giê-hô-va đặng phụng sự trong chức mình, làm việc ngày nào theo ngày nấy;
17Mwet tol uh itukyang orekma kunalos fal nu ke sou lalos, ac mwet Levi su yac longoulyak, itukyang ma kunalos fal nu ke u in orekma lalos.
17lại phân phát cho những thầy tế lễ đã theo tông tộc mình mà ghi tên vào gia phổ, và cho người Lê-vi từ hai mươi tuổi sắp lên, tùy theo chức phận và ban thứ của họ;
18Simla inelos nukewa wi mutan kialos ac tulik natulos ac mwet saya su muta ye karinginyuk lalos, mweyen elos enenu na in akola pacl nukewa in oru orekma mutal kunalos.
18cùng phân phát cho hết thảy con nhỏ của họ, vợ họ, con trai và con gái họ, tức cả hội chúng đã ghi tên vào gia phổ; vì chúng thành tín biệt mình riêng ra đặng nên thánh.
19Inmasrlon mwet tol su muta in siti ma itukyang nu sin sou lal Aaron, ku mwet su muta ke acn in tohf kosro lun siti ingan, oasr mwet oaru ma kuneyuki in kitalik mwe mongo nu sin mukul nukewa in sou lun mwet tol, ac nu sin mwet nukewa su simla inelos ke sou lun mwet Levi.
19Còn về con cháu A-rôn, tức là những thầy tế lễ ở trong đồng ruộng, rải rác nơi địa hạt các thành của họ, thì có đặt trong mỗi thành những người gọi từng tên, đặng phân phát phần cho hết thảy người nam trong những thầy tế lễ và cho những kẻ trong vòng người Lê-vi đã ghi tên vào gia phổ.
20In acn Judah nufon, Tokosra Hezekiah el oru ma suwohs ac ma LEUM GOD lal insewowo kac.
20Trong khắp Giu-đa, Ê-xê-chia làm như vậy. Người làm những điều lành, ngay thẳng và chân thành, tại trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời của người.
21El kapkapak mweyen ma nukewa el oru nu ke Tempul, ku akosten lal nu ke Ma Sap, el oru ke inse pwaye ac ke lungse pwaye lal nu sin God lal.
21Trong các việc người làm, hoặc quản lý sự phục dịch nơi đền của Đức Chúa Trời, hoặc theo luật pháp hay là điều răn đặng tìm kiếm Đức Chúa Trời của người, thì người hết lòng mà làm, và được hanh thông.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.